Hiển thị các bài đăng có nhãn Hàn Mặc Tử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hàn Mặc Tử. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2009

Dòng sông của Hàn Mặc Tử

Dòng sông của Hàn Mặc Tử



Ông Phạm Xuân Tuyển, soạn giả cuốn Đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử có lần nói với tôi, đại ý: Có người cho rằng câu thơ “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang” của Hàn được viết về một dòng sông nào đó ở mạn mấy tỉnh từ Quảng Ngãi vào Phan Rang, Phan Thiết. Nghĩ cũng Chế Lan Viên có lý, bởi cái nắng miền đất ấy là nắng lửa.
Ý kiến trên có thể đúng, bởi Hàn Mặc Tử sống nhiều nhất ở miền đất ấy. Nhưng đi tìm địa chỉ cho bài thơ là việc không nên làm, nhất là với thơ Hàn Mặc Tử, ngay cả những bài thơ như Đây thôn Vĩ Dạ, ai dám bảo bài thơ viết về làng Vĩ Dạ ở Huế? Thực tế là có những bài thơ viết về một địa danh, một con người cụ thể, vẫn có những câu, những ý bắt nguồn từ vốn ấn tượng trong lịch lăm đường đời, trong vốn học và đọc trực tiếp hay gián tiếp có khi tận từ thời thơ ấu.
Đọc Mùa xuân chín, quả là không thể xác định được không gian và thời gian trong đó, ta chỉ bắt được mạch cảm xúc của nhà thơ, từ đó mà đi vào tác phẩm, mà cảm nhận. Hơn nữa, nếu theo ý kiến trên, thì cái dòng sông nào đó lại phải là dòng sông chảy giữa làng quê có người phụ nữ đang gánh thóc bên bờ nữa kia. Đến thế thì ngay cả tác giả bài thơ cũng không thể nói chắc dòng sông ấy tên gì, nằm ở đâu, còn nếu nhắm mắt nhận bừa đi, thì cũng không còn là Hàn Mặc Tử nữa!
Vậy dòng sông trong câu thơ “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang” ấy nằm nơi nào? Xin thưa, dòng sông ấy nằm trong lòng Hàn Mặc Tử, trong lòng chúng ta, như bến My Lăng, như dòng sông Thương vậy. Nó là dòng tạo nên từ nhiều con sông có thật và những dòng chảy của cõi đời, của niềm vui là nỗi buồn của một thi nhân tài hoa mệnh bạc; dòng sông ấy có vô số địa chỉ, và nói đến địa chỉ nào cũng phải có cơ sở của nó. Chúng tôi xin đưa ra một địa chỉ đáng tin cậy của dòng sông ấy: sông Nhật Lệ.
Như ta biết, Hàn Mặc Tử sinh ngày 22-9-1912 tại làng Lệ Mỹ (tức phường Đồng Mỹ ngày nay) thuộc thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Đồng Mỹ là một phường hẹp, nằm kẹp giữa Quốc lộ 1A và kéo dài dọc đoạn cuối của con sông Nhật Lệ đổ ra biển. Đó là đoạn đẹp nhất của dòng sông, bên này là phố thị với thành luỹ xưa in dấu một thời trận mạc, bên kia là làng bảo Ninh với dải cát trắng đâm dài ra biển như một dải lụa khổng lồ. Không rõ ngôi nhà xưa của gia đình Hàn Mặc Tử nằm ở đâu, nhưng nhất định cũng chỉ định vị trong rẻo đất hẹp chạy dọc sông Nhật Lệ này (và tôi cứ tin rằng nó nằm rất gần khu nhà thờ Tam Toà, ngay trên đường Hàn Mặc Tử ở Đồng Hới bây giờ). Hà đã chào đời và cả tuổi thơ của hàn đã tắm trong không gian ngày đầy nắng, đêm đầy trăng này, đã ngược xuôi, xuôi ngược không biết bao nhiêu lần dọc con sông thơ mộng này…Chính cái không gian nước xanh – cát trắng - nắng vàng đôi bờ Nhật Lệ đã theo Hàn Mặc Tử suốt bao năm tháng trong vốn ấn tượng có được thuở ban đầu vô cùng quý báu, làm chất men khơi dậy bao ý thơ về sau. Hàn Mặc Tử sống 28 năm trên đời thì đã 8 năm, từ khi sinh đến lên 8 tuổi, gắn bó với Đồng Hới và sông Nhật Lệ cùng tổ ấm gia đình, bởi vậy nhiều bài thơ của hàn sau này dù viết trong điều kiện nào cũng có thể nói đã được bắt nguồn từ cái vốn cảm xúc đầy ắp về mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình. Trăng, Biển, Chúa Trời là ba nét lớn trong thơ Hàn Mặc Tử, thì cả ba thứ ấy làng Lệ Mỹ xưa lúc nào cũng sẵn. Rõ ràng hồn thơ của Hàn Mặc Tử được mở ra từ sông Nhật Lệ. Không thể nói dòng sông trong câu thơ “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang” là sông Nhật Lệ, nhưng không có sông Nhật Lệ, chắc không có câu thơ này, và thậm chí sẽ không có cả …Hàn Mặc Tử! Không nhà thơ nào thoát ly khỏi cảm xúc huy hoàng của tuổi thơ về sông núi quê hương hay chốn sinh thành mà thành nhà thơ được …
Nói đến Quảng Bình là nói đến gió Lào, cát trắng và nắng chang chang. Ai đến đất này cũng đều chung cảm nhận ấy, xưa nay đều thế. cứ lấy từ Nguyễn Du trở đi mà xem. Hình ảnh “Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia” trong Truyện Kiều chắc cũng được thoát thai từ cảm xúc về những cồn cát chạy dọc suốt bờ biển Quảng Bình thời ông làm quan cai bạ nơi đây. Riêng hình ảnh nắng chang chang thì được nhắc đến nhiều hơn. Tố Hữu trong bài thơ Mẹ Suốt có câu:
Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình
Gần đây nhà thơ Nguyễn Hoa trong bài thơ Trưa Nhật Lệ lại viết:
Biển xanh, sóng trắng, cát vàng
Trời ong óng nắng chang chang Quảng Bình
Sẽ còn nhiều bài thơ viết về Quảng Bình với hình ảnh nắng chang chang, hoặc cảm nhận cái nắng chang chang của mảnh đất này để đưa vào thơ, nhưng đừng ai quên người đưa cái nắng chang chang vào thơ đầu tiên chính là Hàn Mặc Tử. Nhật Lệ là dòng sông tuổi thơ của Hàn Mặc Tử.

Nguồn:
Văn hoá – Văn nghệ Công an
Số 5 – 2000, Tr. 87-88

Hàn Mặc Tử và tôi

Hàn Mặc Tử và tôi



Trinh Đường



Trên tấm phản gỗ, Cụ Phan Bội Châu đắm hồn vào trang sách cổ nhân, quên mình đang ở trong nhà, cũng quên nốt đang ở trong vòng trong vòng ngoài của mật thám ma tà. Nghe có tiếng động cửa, cụ bỏ mục kỉnh trông ra thì thấy có bóng người thập thò phía ngoài rồi một chú bé dáng thư sinh khép nép bước vào nha. Giọng huế của cụ trầm xuống, bao dung, khi chú bé đến gần bên phản " trò có việc gì cần đến cụ ?" Đứng trước một ngọn núi về thơ và về mặt chí sĩ, chú bé ấp úng mới nói thành tiếng " dạ, dạ ... cụ cho phép cháu được gặp cụ " vẫn giọng độ lượng cha già, cụ chậm rãi: " Cháu là ai, tên gì, đến với cụ có việc gì ? ". Như được khuyến khích, chú bé đáp trôi chảy hơn " cháu, cháu là Nguyễn Trọng Trí". Như bị điện giật. Như bị điện, cụ Phan giật mình ngồi thẳng lên " Trí à ? có phải Trí là tác giả mấy bài thơ giử cho tôi và đã đăng báo Tiếng Dân đó phải không ?". Chú bé mạnh dạn hơn " Dạ thưa cụ phải ạ ".
Cụ già Bến Ngự bỗng à lên một tiếng, ngồi lùi về phía bên kia, đưa tay trỏ bên này phản, mời chú bé, giọng không còn bình thường " Thế thì, mời trò ngồi lên đây, nói chuyện ". Chú bé sợ quá, lùi lại mộ bước và khúm núm từ chối " Thưa cụ cháu không dám, cháu đâu dám... Cháu chỉ dám xin cụ cho ý kiến về mấy bài thơ cháu giử cụ duyệt lãm thôi". Cụ Phan vẫn đưa tay trỏ bên kia phản" không, không tài thơ của cháu đáng được ngồi ngang với cụ, cháu cứ ngồi đây". Thấy cụ kiên trì ý kiến, chú bế bèn leo lên phía trong phản, nép mình sát tường - giọng ngâm thơ của cụ Phan sang sảng như có lửa:
Ấp úng không ra được nữa lời
Tình thu bi thiết lắm thu ơi
Vội vàng cánh nhạn bay đi trót
Hiu hắt hơi may thoảng lại rồi
Nằm gắng đã không thành mộng được
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi...
Cụ Phan vỗ đùi đánh đét" Hay, hay lắm, bạc đầu trong làng thơ, không dễ gì viết được đâu... Lại còn bài khác, trò viết:
Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối
gió thu lọt cửa cọ mài chăn...
" Tuyệt ! Trác tuyệt ! Vừa đại khoa, vừa tài tử ! Cứ yên tâm, trò đáng được ngồi ngang với cụ ! Xưa nay thơ hay có ai tính tuổi đâu..." .
Chú bé có cái tên quai nôi là Trí trong lần đầu tiếp xúc với nhà chí sĩ kiêm nhà thơ Phan Bội Châu ấy tên là Hàn Mặc Tử. Và từ đấy trổi lên trên mặt bằng thi ca Việt Nam một thiên tài trác tuyệt: Hàn Mặc Tử của chúng ta !.
Từ nhỏ, tôi tìm đọc và thuộc không thiếu một dòng nào của Hàn Mặc Tử,
Từ Gái Quê đến thơ Hàn Mặc Tử đến các vở kịch thơ, đến lời đề tựa cho Tinh Huyết của Bích Khê, đến bản Tụng ca Thượng đế bằng tiếng Pháp, cả bản anh tự dịch trước khi lìa trần, làm ánh sao băng chói loà cả ba ngàn thế giới thi ca đến tận ngày nay và mãi mãi về sau này.
Cũng từ nhỏ mê thơ đến chết, nhận định của tôi về ngọn cờ thơ mới 30 - 45 vẫn không thay đổi cho đến ngày nay. Phan Khôi đề xướng, Thế Lữ mở đầu, Xuân Diệu âu hoá thơ Việt, " một thiên tài sớm lộ " ( Chữ trên bọc ngoài tập Thơ Thơ của Tự Lực Văn Đoàn) Huy Cận sâu sắc một nổi buồn nhân thế, Chế Lan Viên ma Hời, Lưu Trọng Lư làm thơ bằng hồn chứ không bằng tay, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng rất mực tài hoa, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân trầm hùng, Nguyễn Bính truyền thống và dân dã... Nhưng vượt lên trên những đỉnh cao nói trên vẫn là Hàn Mặc Tử với châu tuần một vệ tinh là Bích Khê.
Tôi đã viết nhiều chân dung nghệ sĩ bằng văn xuôi, cả bằng thơ, nhưng nghĩ hoài, vẫn không sao lấp được hai khoảng trống lớn trong đầu tôi: Nguyễn Du và Hàn Mặc Tử. Tôi đã dám bình nhiều đoạn về Kiều, nhưng dẫu đã đi thăm vẫn chưa dám viết về mộ Nguyễn Du và Hàn Mặc Tử. Cứ mỗi lần cầm bút định viết một trong hai người, tôi đều có cảm giác ớn lạnh và " run như run thần tử thấy long nhan". Mãi đến khi trường viết văn Nguyễn Du có một hội thảo về thơ Hàn Mặc Tử mà tôi có phần trách nhiệm, tôi phải động viên tôi nhiều đêm mới dám động đén cái thế giới thơ huyền hoặc kỳ bí ấy - cũng để, trên hết, thắp một nén hương nguyện, trả một món nợ tinh thần canh cánh trong lòng đã suýt gần nửa thế kỷ nay với người tôi tôn thờ từ nhỏ : Hàn Mặc Tử.
Cái gì đã làm tôi tự nguyện cúi đầu trước thần tượng nói trên của tôi ? Trên hết mọi điều ở thiên tài này là phần tâm linh, phần huyền nhiệm, không một ai vươn tới được của anh. Với một mức độ tài năng nào đó, ta có thể bắt kịp Thế Lữ, đến gần Xuân Diệu, Huy Cận, nhưng không thể có được cái hồn trời cho của Lưu Trọng Lư và xa đến tuyệt mù với Hàn Mặc Tử và phần nửa Bích Khê, đang chiếm lĩnh cho riêng hai người cả vòm trời, cả thế giới tâm linh. Cùng ở mặt đất, không thể bén gót ngay cả việc tả chân một người lao động vốn là " nghề " sở trường của chúng ta trong nhiều thập kỷ qua, Chị ấy năm nay còn gánh thóc, dọc bờ sông trắng nắng chang chang (một vần trong ai đó đã ảnh hưởng mà người chưa đọc Hàn, cứ cuống cả lên !) đến một thương tiếc rất đời" Ngày mai anh bỏ làm thi sĩ, em lấy chồng rồi hết ước mơ" (Không còn ước mơ, không còn thi sĩ, em ở đây là cái bóng dáng hạnh phúc riêng và chung). Anh để chúng ta lại dưới trần khi đi vào cõi biếc hư linh Nhớ xưa kia ta là chim phượng hoàng , vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất, bay từ Đạo Lỵ đến cung Đâu xuất, và hùa theo không biết mấy là hương... hay Như Song lộc triều nguyên ơn phước cả, dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng, Thơm tho bay cho tới cõi thiên đàng, huyền diệu biến thành muôn kinh trọng thế... Cả hiện thực ở Hàn Mặc Tử cũng huyền hoặc. Chim hay tin ngọc đá biết tuổi vàng hay ngửa nghiêng đời cao bọc trăng ngủ... Áo em trắng quá nhìn không ra. Đến cả một hiện thực không hư ảo, anh cũng vượt xa mọi người Lá trúc chen ngang mặt chữ điền... Và thật không sao hiểu được khi bên những câu tân kỳ cả về hình thức này " Trăng, trăng là trăng, trăng trăng. Ai mua trăng tôi bán trăng cho, không bán đoàn viên bán hẹn hò... lại có những câu rung động ta bằng hầu hết những từ cổ, có sẵn " Trăng cố độ hết vươn cành trúc, hẹn đoàn viên tình thực chiêm bao hay Huyền Tiên hỡi, Sao em không hội ý, đôi ta xưa vầy hiệp nợ Châu Trần... Tưởng như mọi từ ngữ đã chết đều trỗi dậy sống động dưới ngòi bút thiên tài của anh.
May mà chúng ta có đâu đó một người thương nhớ để ta nhớ họ. Thật vô cùng hạnh phúc khi trên cái bình diện thơ ca chúng ta có Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm,... và cận đại là những đỉnh thơ 30 - 45 mà chọc trời là Hàn Mặc Tử - người đầu tiên nối bước Nguyễn Du(1) chắp đôi cánh linh thần cho thơ Việt Nam bay đi chinh phục mọi tầng trời..
==========
(1) Xin ghi nhận các câu trong Kiều "Ở đây âm khí nặng nề, Bóng chiều đã ngã dặm về còn xa - Sương in mặt tuyết phá thân, Sen vàng lảng đảng như gần như xa..."

Nguồn trích: Bình Định nguyệt san.- 1992.- Số 9.- Tr.10 (701;
KHPL: 04(91)

Thêm một tư liệu mới về Hàn Mặc Tử

Thêm một tư liệu mới về Hàn Mặc Tử



Phạm Xuân Tuyển


Là người chuyên tâm nghiên cứu, sưu tầm tư liệu mới về nhà thơ Hàn Mặc Tử (HTM) gần 30 năm qua, tôi đã đi gần hết các nơi ông sinh sống, làm việc và qua đời.
Tôi vui mừng khi đến tư gia nhà thơ Quách Tấn ở 12 Bến Chợ - Nha Trang xin được tập thơ “Một tấm lòng” xuất bản năm 1939, có nhiều bài thơ Đường luật xướng họa giữa HMT và Quách Tấn, mà trong đó có chữ ký “bệnh hoạn” của HTM ở cuối bài Lời Bạt. Và nhân tiện cũng tại Nha Trang, tôi đến xin giáo sư Võ Văn Côn (tức nhà văn Châu Hải Kỳ) bản sao học bạ trường Pellerin Huế mà cậu học trò Nguyễn Trọng Trí học từ năm 1928 đến năm 1930. Năm 1991, tôi ra khu điều trị phong Qui Hòa - Qui Nhơn, gặp bác sĩ giám đốc Nguyễn Hữu Ngoạn và xin ông lục cho giấy nhập viện của bệnh nhân số 1134 Nguyễn Trọng Trí ngày 20-9-1940. Đầu năm 1996, trên đường đi tìm tư liệu bổ sung cho cuốn sách “Đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử” của tôi sắp ra đời, tôi đã được ông Nguyễn Đức Trinh - Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Hòa Khánh (QNĐN) và linh mục Joe. Nguyễn Văn Thông - chánh xứ Hòa Khánh chân tình giới thiệu đến giáo xứ Tam Tòa - Đà Nẵng tìm “giấy rửa tội” của cậu bé trai sinh ngày 22-9-1912 tại làng Lệ Mỹ, tổng Võ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Đồng Hới.
Khi được biết tôi là người đã gửi thư nhờ giáo sư lục trước đó, Linh mục chánh xứ Phao Lô Lê Đình Chiến nói rõ ông đã tìm không có và ông nghĩ chắc chắn HMT không được “phép rửa tội” tại giáo sứ Tam Tòa (trước đây ở Đồng Hới). Nghe vị chánh xứ Tam Tòa đời thứ 63 khẳng định HMT không phải là con chiên của họ đạo mình, nhưng lòng tôi vẫn tin tưởng là có nên tôi đã khẩn khoản xin ông lục lại kỹ hơn.
Sau một giờ lần giở, chăm chú đọc kỹ từng trang ở cuốn thứ 2 từ 1905 đến 1914 của giáo xứ và hỏi “kiểm tra” thấy tôi hiểu biết về cha mẹ HMT, tên thật, Thánh danh, thì ông vui mừng bảo tôi lại gần xem trang ghi ngày, số thứ tự giáo dân bằng chữ la tinh. Ông đã dịch cho tôi nghe bằng chữ Việt như sau: “- Số thứ tự 437 - ngày 15 tháng 9 năm 1912 - tại giáo xứ Tam Tòa - một bé trai sơ sinh - sinh ngày 22 cùng tháng như trên ( tháng 9) - tại làng xứ Tam Tòa - con ông Vincent Thầy Toản và bà Maria Duy được chịu phép rửa tội do tôi ký tên dưới đây mang tên Thánh Francois (Phan xi cô) - người cha đỡ đầu là Francois Thầy Thông Hài ở cùng địa phương giáo xứ. Tôi chứng nhận - giuse Trần Phan-Linh mục bản quốc”.
Cùng tham dự niềm vui mừng khôn tả với linh mục chánh xứ và tôi hôm ấy còn có ông Nguyễn Thanh Kim-Phó chủ tịch Uỷ ban đoàn kết công giáo tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng đến viếng thăm giáo xứ trong dịp đầu năm.
Hàn Mặc Tử ơi! Từ 55 năm sau khi ông qua đời đến nay, ai cũng đều viết sai về Thánh danh “rửa tội” theo tôn giáo (công giáo) của ông. Đến cả ông Nguyễn Bá Tín (em ruột kế HMT) trong sách hồi ký “Hàn Mặc Tử-Anh tôi-NXB Văn nghệ TPHCM 1991” cũng đã ghi nhầm tên Thánh rửa tội là Phêrô, Thánh thêm sức là Phan xi cô Xavit (trang 12 chương “Một ít lịch sử dòng họ” sđd).
Còn ông Quách Tấn là nhà thơ, bạn thân HTM được gia đình giao toàn bộ di cảo, thế mà vẫn viết từ năm 1959 ở “Đôi nét về Hàn Mặc Tử” là “tên Thánh là Phêrô Phanxicô” (trang 27 thơ Hàn Mặc Tử - Sở VHTT Nghĩa Bình xuất bản 1988, in lần thứ hai có bổ sung).
Nhà thơ Chế Lan Viên là bạn thân cận nhất ở Qui Nhơn mà khi làm “Tuyển tập Hàn Mặc Tử NXB Văn học 1987” ở trong tiểu sử vẫn viết HMT “tên Thánh là Pierre kế đó là Prancois” (sách trên tái bản 3 lần).
Để xác minh “giấy rửa tội” có tên Thánh danh cha mẹ nhà thơ HMT đúng như mộ phần tôi đã cùng nhà thơ, nhà giáo Mai Văn Hoan đang giảng dạy chuyên văn trường Quốc học Huế và nhà văn nhiếp ảnh Lê Đức Bổn đến viếng mộ cụ Vincent Nguyễn Văn Toản ở ngọn đồi sau nhà thờ Phường Đức, gần đền thờ Thánh tử đạo Tống Viết Bường và đình làng Dương Xuân Thượng, thuộc thôn Thượng Bôn, ấp Sơn Điền, xã Thuỷ Xuân, ở ngoại vi thành phố Huế.
Trước đó, vào dịp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm (8-12-1995), tôi đã cùng các bạn văn: Nguyễn Thanh Xuân, Trần Viết Dũng và Trần Hoa Khá ở Qui Nhơn đến kính viếng mộ mẹ HMT là cụ Maria Nguyễn Thị Duy ở Gồ Bồi, thôn Tùng Giảng, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
Sau khi công bố tư liệu quý này, tôi sẽ tiếp tục đi tìm “giấy thêm sức” (với người Công giáo, sau khi chịu phép rửa tội lúc mới sinh. Từ 6 đến 10 tuổi được cho học giáo lý và chịu phép thêm sức) của HTM xem có phải tên Phêrô hay không vì “Phanxicô” đã rõ tên là Thánh rửa tội rồi.
Tiện đây, tôi xin thành thật cám ơn đối với Linh mục Phao Lô Lê Đình Chiến đã khổ công lục sao tặng “giấy rửa tội”, ảnh nhà thờ Tam Tòa nguyên vẹn khi xưa và băng nhạc phổ thơ Duyên kỳ ngộ của HTM. Và tôi cũng không bao giờ quên truyền thống mẫu mực của giáo xứ Tàm Tòa vì đã gìn giữ tốt đẹp những hồ sơ, sổ sách vẹn toàn qua gần hai thế kỷ thành lập với những cuộc chiến ác liệt, phải di dời từ Đồng Hới đến Đà Nẵng.

Nguồn trích: Bình Định nguyệt san.- 1996.- Số 4.- Tr. 22 (780);
KHPL: BĐ.04(92)

Quy Hòa của Hàn Mặc Tử

Quy Hòa của Hàn Mặc Tử



Nguyễn Thanh Mừng


Quy Hòa là một vùng eo biển cát vàng xinh đẹp và thơ mộng , bao bọc bởi ba bề đồi núi. Chỉ cần qua một con đèo thanh mảnh là đến thành phố Quy Nhơn ồn ã sôi động nhưng nơi đây lại là một thế giới khác, êm đềm biệt tịnh. Đó là thế giới của sóng biển, của chim ngàn, của những cành xanh níu nhau làm thành con đường bóng rợp, của những bà phước nhân từ, những lương y và những kiếp người đau thương vì ác bệnh, Quy Hòa được khách văn chương lưu tâm hơn vì còn là nơi vị chúa của trường thơ loạn – Hàn Mặc Tử - đã sống những ngày tháng cuối cùng, vật vã với số phận, ký thác những vần thơ cân não “Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt – như mê man chết điếng cả làn da”.

Như chúng ta đã biết, bệnh phong của Hàn khởi phát từ thời còn làm báo ở Sài Gòn. Hàn về Quy Nhơn chạy chữa một thời gian, hết hy vọng đến thất vọng và ngày 20 – 9 – 1940, ông đành từ biệt bạn bè và gia đình để lên đường điều trị cách ly ở Quy Hòa. Lưu trú ở đây chưa đầy hai tháng, ngày 11 – 11 – 1940 ông đã trút hơi thở cuối cùng. Một người đồng bệnh là ông Nguyễn Văn Xê đã chứng kiến quảng thời gian này và ghi lại khá tỉ mỉ qua hồi ký Nhớ Hàn Mặc Tử (tạp chí Sông Hương số 26 – 1987). Ngoài gia đình, người yêu, những văn nhân đương thời đã tìm đến Quy Hòa sau khi Hàn Mặc Tử tạ thế ít lâu. Đó là nhà nghiên cứu phê bình văn học Trần Thanh Mại, sau đó đến nhà thơ Quách Tấn, hai người mà trước khi nhắm mắt xuôi tay, Hàn đã nhờ người ở lại báo tin cho họ,

Ngày 23 – 11 – 1940, nhà thơ Bích Khê, một bạn thân của Hàn đã viết trên tạp chí Người Mới, số đặc biệt về Hàn:

… Rùng mình ta nhìn ra
Huyền hồ đà như ma
Gần sao mà còn xa
Lại đâu là quê nhà
Hàn Mặc Tử ! Hàn Mặc Tử !
Quy Hòa ! Quy Hòa !

Từ đó đến nay đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, hai tiếng Quy Hòa dường như gắn bó mật thiết với cái tên Hàn Mặc Tử. Khách hành hương, ngoài ý nghĩ du lịch và tham quan bệnh viện phong, còn có một phần tình cảm dành cho nhà thơ tài hoa mệnh bạc. Gần đây nơi vị trí mộ cũ của Hàn đã mọc lên một biểu tượng đẹp. Đó là cụm kiến trúc mô hình trang sách mở ra bên vầng trăng khuyết, cái vẩng trăng đã từng rướm máu cùng đời thơ Hàn Mặc Tử. Công trình này do các độc giả ái mộ Hàn gửi tiền xây dựng.

Người phụ trách phòng lưu niệm (thiết kế từ phòng bệnh cũ của Hàn) đã tận tình cho chúng tôi xem một số tư liệu photocopy và các hiện vật ban đầu như chiếc giường Hàn từng nằm, sổ theo dõi trong đó ghi số hiệu và ngày nhập viện của bệnh nhân Nguyễn Trọng Trí, tên thật của Hàn. Ngoài ra còn một số sách báo về Hàn mới xuất bản và một số tranh của ông Nguyễn Bá Tín, em ruột Hàn vẽ phỏng theo những ý thơ của Hàn. Phòng lưu niệm rộng khoảng trên hai mươi mét vuông, có bàn thờ đặt tượng bán thân của Hàn ở giữa và lời đánh giá của Chế Lan Viên từ năm 1940 được phóng lớn trên tường: “Mai sau những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại ở cái thời kỳ này chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử”.

Quả tình, khung cảnh Quy Hòa nói chung và phòng lưu niệm của Hàn nói riêng đã gợi cho khách văn chương cũng như độc giả mến mộ Hàn rất nhiều điều. Từ vòm trời và mặt đất đầy yêu thương và đau khổ này, từ những kỷ vật đơn sơ từng in hẳn hình bóng Hàn, mỗi người có thể tái tạo lại gương mặt Hàn qua những cảm nhận riêng tư. Dường như những lời thơ hoặc điên cuồng như máu vỡ, hoặc trong sáng như thủy tinh, hoặc tinh khiết như trăng sao hãy còn ngự trị trên mỗi đợt sóng, trong từng làn nắng ửng và bíu chặt trái tim bao người tựa lời kinh giải thoát.

Quy Hòa của Hàn Mặc Tử là một Quy Hòa của phong cảnh thiên nhiên yên ả và những đời người khôn nguôi giông bão. Nó còn là nơi dành cho sự thánh thiện và cao khiết lên ngôi, như đã từng lên ngôi trong thơ văn Hàn.

Hy vọng những khách hành hương tìm về nơi ở cuối cùng của Hàn Mặc Tử ngoài ý nghĩa ngưỡng mộ tài thơ còn tìm được “Sự trong sạch của tâm hồn”, như nhan đề một áng văn cuối cùng của Hàn Mặc Tử.

Nguồn trích: Thanh niên.- 1999.- Ngày 19 tháng 12 (2.651);
KHPL: BĐ.04(91)
= ==============================






--------------------------------------------------------------------------------



Thêm vài chi tiết về cuộc đời và mộ chí của Hàn Mặc Tử ở bệnh viện phong Qui Hòa



Ngọc Minh


Vừa qua, chúng tôi có dịp vào bệnh viện phong Qui Hòa, nơi trước đây Hàn Mặc Tử đã đến điều trị và đã qua đời để tìm hiểu thêm về quãng đời cuối cùng của nhà thơ và những nghi vấn chung quanh hài cốt của thi sĩ.
Dưới sự giúp đỡ nhiệt tình của bệnh viện, chúng tôi đã tìm được cuốn sổ dày cộp ghi lại danh sách của các bệnh nhân do bà sơ người Pháp ghi bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp. Chúng tôi nhìn thấy tên Nguyễn Trọng Trí ở hàng số thứ tự 1134 tính từ người đầu tiên nhập viện. Tại đây cũng ghi rõ ngày vào viện 20-9-1940 và ngày mất 11-11-1940; như vậy nhà thơ đã qua đời chỉ vỏn vẹn chưa đầy 2 tháng.
Trong cuộc gặp gỡ trao đổi với bác Trần Kế, năm nay 72 tuổi là một bệnh nhân cùng thời và nằm cùng buồng với Hàn Mặc Tử và các bác Bùi Tuất, Lê Lừ là những bệnh nhân vào bệnh viện sau vài ba năm nhưng đã được nghe kể lại, chúng tôi được biết trong những ngày điều trị ở đây Hàn Mặc Tử tỏ ra là người trầm tư ít nói, thường lang thang một mình ra các ghềnh đá ven biển vào các buổi chiều. Trừ một phụ nữ không rõ là chị em hoặc người yêu thường đến, nhà thơ sống cô độc, ít có ai đến thăm, và cũng ít tiếp xúc với ai. Thỉnh thoảng người ta thấy người thanh niên trẻ ngồi viết dáng điệu tư lự nhưng không ai biết viết gì, mãi đến khi qua đời người ta xếp dọn chỗ ở mới thấy những bài thơ viết và truyền tay nhau đọc. Sau người nhà thu lại một ít còn một số thất lạc.
Bác Kế còn cho biết Hàn Mặc Tử chết vì một bệnh gì khác giống như thương hàn chứ không phải vì bệnh phong. Chúng tôi đem vấn đề này trao đổi với bác sĩ Ngoạn, giám đốc bệnh viện, anh cho biết nguồn tin này có lý bởi ngày nay khoa học đã xác nhận bệnh phong rất khó lây và rất khó làm chết người. Thực tế ở bệnh viện nhiều bệnh nhân thọ rất cao dù đã mắc bệnh ba bốn mươi năm. Một người trai trẻ khó có thể chết nhanh chóng vì bệnh phong!
Về hài cốt của Hàn Mặc Tử, bác Kế cho biết : đám tang Hàn Mặc Tử rất thê lương lặng lẽ chỉ một vài người lo chôn cất và đưa tang. Nấm mộ được đắp thêm mấy hòn đá để làm dấu (thời ấy chưa có bia mộ). Bác để ý bởi chỉ cách 3 nấm là đến mộ cuả người con sinh non tháng của bác. Đến khi Quách Tấn vào tìm để chuyển hài cốt ra Ghềnh Ráng bác có đến chỉ dẫn nhưng không hiểu sao nấm mộ ấy vẫn còn nguyên. Theo bác hài cốt đã chuyển ra Ghềnh Ráng là của ai khác do người ta chỉ nhầm chứ không phải của Hàn Mặc Tử. Chúng tôi cũng đã gặp anh Huỳnh Ngọc Hải là một bệnh nhân đời sau nhưng anh cho biết đã có lần nghe ông Bửu Căn, một bệnh nhân cùng thời với Hàn Mặc Tử người đã chỉ cho Quách Tấn dời mộ Hàn Mặc Tử chuyển ra Ghềnh Ráng sau này, nói đại ý: Hồi đó cũng chỉ đại chứ có nhớ gì đâu! Nhưng đáng tiếc là sau đó cả khu nghĩa trang này đã được bốc dời sang một địa điểm mới và người ta cũng không để ý phân biệt là mộ của ai. Nên nếu giả thuyết hài cốt đã được chuyển ra Ghềnh Ráng không phải của Hàn Mặc Tử thì cũng không cách gì tìm được hài cốt thật của nhà thơ hiện nằm ở chỗ nào Xin nói thêm, bằng tấm lòng ngưỡng mộ một nhà thơ lớn, để phục vụ khách tham quan du lịch, bằng những tư liệu thu thập bước đầu, bệnh viện phong Qui Hòa đang suy nghĩ kế hoạch phục hồi những hiện vật có liên quan đến Hàn Mặc Tử như buồng bệnh bàn ghế và các vật dụng khác lập thành một phòng lưu niệm nhà thơ. Tại khu vực trước đây đã mai táng nhà thơ sẽ lập nên ngôi mộ tượng trưng và tượng của thi nhân.
Thiết tưởng đấy là những việc có ý nghĩa đối với nền văn hóa dân tộc.

Nguồn trích: Bình Định.- 1990.- Ngày 13 tháng 3 (799);
KHPL: BĐ.04(91)

Đọc "Đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử" của Phạm Xuân Tuyển

Đọc "Đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử" của Phạm Xuân Tuyển



Lê Hoài Lương


Sách in khổ lớn trên giấy trắng, đẹp, dày 450 trang, do Nhà xuất bản Văn học ấn hành đầu năm 1998 này.

Tác giả Phạm Xuân Tuyển từng được bạn đọc biết đến từ những bài viết trên các báo, từ vai trò diễn giả trong những sinh hoạt ăn học về Hàn Mặc Tử - một tâm huyết hiếm có đối với nhà thơ tài hoa mệnh bạc mà vì nhiều lý do, cuộc đời và thi phẩm của ông còn nhiều khuất lấp hoặc được thêu dệt thành huyền thoại. Khởi đầu từ năm 1966, bị gián đoạn rồi thực sự làm lại từ năm 1986 đến khi quyển sách ra đời, tác giả có sự say mê và cuồng nhiệt của một "tín đồ" đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử. Tự thân quyển sách đã nói lên những điều rất đáng ghi nhận:

1. Về tác giả Phạm Xuân Tuyển: Ông đã đi hầu khắp các tỉnh thành Nam, Trung, Bắc để gặp các nhà nghiên cứu. nhà văn, nhà thơ, những chứng nhân có ít nhiều liên quan hoặc hiểu biết về cuộc đời và thơ văn Hàn Mặc Tử để sưu tầm tư liệu, dù là chi tiết nhỏ nhặt nhất. Tác giả đã đọc hàng trăm quyển sách, bài báo viết về Hàn Mặc Tử, đã viết, thuyết trình, nói chuyện hàng chục lần trên nhiều diễn đàn, câu lạc bộ...Công sức ấy, tấm lòng ấy, trách nhiệm với văn học, với Hàn Mặc Tử, rất đáng trân trọng.

2. Về nội dung quyển sách: Trước hết, đó là tập hợp hơn hai chục bài viết của tác giả; những bài viết, nhạc, thơ của nhiều người được tác giả trích chọn nhằm bổ sung cho chân dung nhà thơ; hơn 200 bút tích, hình ảnh liên quan...Nội dung chủ yếu của cuốn sách là những tư liệu nhằm làm sáng tỏ cuộc đời và thi tài Hàn Mặc Tử. Đóng góp lớn nhất của tác giả là phát hiện người bạn cuối đời của Hàn - ông Nguyễn Văn Xê, người đồng bệnh và trực tiếp gần gũi chăm sóc nhà thơ 52 ngày ở trại phong Qui Hoà. Thiên hồi ký hết sức quý giá (Nhớ Hàn Mặc Tử) rọi sáng rất nhiều về tâm hồn, nhân cách nhà thơ ở những ngày đau khổ cực cùng rồi thanh thản dọn mình đi vào nước Chúa. Quyển sách cũng làm sáng tỏ nhiều về di hài nhà thơ từ mộ chôn ở Quy Hoà đến mộ cải táng ở Ghềnh Ráng. Những chú giải công phu về các địa danh ghi dấu ấn nhà thơ: Quảng Bình, Huế, Quảng Ngãi, Sài Gòn...đặc biệt là Bình Định với Quy Hòa, Ghềnh Ráng, Gò Bồi và Bình Thuận với Mũi Né, lầu ông Hoàng, bia đài...Rồi thân thế, tình cảm của những nữ lưu trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến cuộc đời và thi phẩm Hàn. Tác giả đã dày công tìm cách tiếp xúc, cố gắng rọi ánh chiếu những hình bóng giai nhân này lên trang viết của nhà thơ. Mọi chi tiết nhỏ nhặt đều được trân trọng ghi nhận. Đến như tờ giấy rửa tội lúc mới sinh (phép bí tích thanh tẩy của Luật dạo Thiên Chúa giáo) cũng được tác giả cất công đi tìm khi nhà thờ Tam Toà ở Đồng Hới, Quảng Bình qua bao bom đạn còn trơ cái gác chuông, cái giáo xứ ấy đã chuyển vào Hòa Khánh - Đà Nẵng và cái trang ghi ấy từ năm 1912 ! Vậy mà tìm được ! Ý nghĩa của cuộc tìm kiếm này thật bất ngờ: Lâu nay trên mọi sách vở, cả của người thân nhà thơ đều viết sai tên thánh. Đó là Phanxico chứ không phải Phêrô hay Pi-e. Tác giả cũng thẳng thắn tranh biện với những tác giả khác, cả những người rất danh tiếng trên văn đàn về các khía cạnh khá tế nhị, dĩ nhiên không phải lời phán quyết sau cùng (người duy nhất đầy đủ thẩm quyền để nói lời cuối cùng là...thời gian, và như vậy tức là không có lời nói thật cuối cùng trong văn chương - GS Hoàng Như Mai viết ở Lời đầu sách), những hữu ích nhất định. Hành trình của tác giả cũng làm thoáng hiện chân dung các bạn hữu nhà thơ: Trần Thanh Mại, Trần Thanh Địch, Quách Tấn, Bích Khê, Nguyễn Minh Vũ, Hoàng Diệp...Đó cũng là đóng góp của quyển sách.

Tuy nhiên, bên cạnh trái tim nóng bỏng nhiệt tình, khi làm sách Phạm Xuân Tuyển đã bộc lộ những điều hạn chế sau:

1. Thiếu khoa học: Quyển sách gộp những bài viết của tác giả in rải rác, các báo, tạp chí hoặc đọc ở đài phát thanh, ở các câu lạc bộ từ 1987 đến 1997. Nhiều chi tiết, vì là bài viết để đăng báo có thể lặp lại phần nào cho sáng tỏ thêm bài viết đó. Nhưng cứ bê tất cả vào một quyển sách sẽ dẫn tới tình trạng trùng lặp không cần thiết. Đó là những bài khá lan man về các mối quan hệu giữa Hàn Mặc Tử và 6 "xuân nữ", chuyên vở kịch "Quần tiên hội" được Đơn Dương viết tiếp, những chi tiết liên quan đến cuộc đời nhà thơ được lặp lại trong phần tranh biện với các tác giả khác...Cách làm này vừa tốn giấy mực vừa giảm mỹ cảm từ cuốn sách.

2. Thiếu chọn lọc: Dụng ý của tác giả là qui tập tư liệu nhưng không nhất thiết phải đưa vào sách toàn bộ những gì có trong tay. Hạn chế này bộc lộ khá rõ ở phần "phụ lục" dày đến 264 trang ! Hơn 100 bài thơ của ngần ấy tác giả viết về Hàn Mặc Tử mà hơn 3/4 số đó không đáng bắt bạn đọc tốn thời gian ! Phần nhạc chiếm đến 82 trang, từ bài Ave Maria, Hải Linh phổ thơ Hàn, bài "Hàn Mặc Tử" của Trần Thiện Thanh và vài bài khác, số còn lại không mấy người nghe (vì có ai hát đâu). Phần ảnh, tác giả công bố trên 75 trang đến 183 bức ảnh! Một rừng ảnh ! Số ảnh từ quyển sách biên khảo này đáng ghi vào Ghinét! Nhưng ta hãy binhg tĩnh xem thử giá trị những ảnh tư liệu này đến đâu ? Ngoài những tấm ảnh giâ đình, bạn bè, người yêu, ảnh mộ Hàn Mặc Tử và những nơi ghi dấu ấn khá sâu đậm trong cuộc đời và thơ Hàn: nhà thờ Tam Hòa, Ghềnh Ráng, Qui Hòa, Mũi Né, lầu Ông Hoàng...số còn lại, lại ghi dấu... Phạm Xuân Tuyển ! Ví như, tác giả đứng trước cổng ga Quy Nhơn mới toanh, hiện đại và chua rằng: "Nơi đây Hàn Mặc Tử thường được đưa đón mỗi khi ra về..."Vô thiên lủng những bức ảnh như thế mà người giàu tưởng tượng lắm cũng không thể có hình dung gì về Hàn !

Thật khó giải thích sự hiện diện những bài viết như: "Họp mặt bên bờ biển xanh", "Họp mặt CLB/ST/TV Quy Nhơn - Bình Định"...Những bài thơ làng nhàng, những bản nhạc không ai hát, những tin bài vớ vẩn, những tấm ảnh vô bổ chiếm đến hàng trăm trang, sao không thay bằng những bài thơ chọn lọc của Hàn, cái phần rất đáng nên có trong quyển sách và chính nó, chứ không phải ai khác, quyết định chân dung nhà thơ ?

3. Sự lên gân thái quá: Gặp cụ Từ Khương, bạn đồng nghiệp của Hàn thời làm việc ở Sở Địa chính, tác giả có thêm một số tư liệu nhưng khi nghe vợ chồng cụ bảo không thích thơ Hàn, tác giả đã "cố nén tiếng thở dài vì quá đau lòng cho Hàn Mặc Tử, 56 năm nằm dưới mộ lạnh mà thơ ông ở trần gian vẫn chưa được thương hiểu hết !" (trang 130). Xin miễn bình! Nếu chịu khó đọc hết, người đọc sẽ còn gặp nhiều vấn đề này.

4. Sự nhập vai: Vì quá yêu thương Hàn, tác giả đã lẫn lộn phần việc của nhà biên khảo sang sáng tác và ông đã nhập vai vào các nhân vật, Xin đơn cử một trường hợp: Thương Thương. Đây là người nữ cuối cùng (dù chưa một lần gặp mặt), gợi cảm hứng cho Hàn viết Cẩm Châu Duyên, Duyên kỳ ngộ, Quần tiên hội. Giờ bà cụ đang ở Pháp. Tác giả viết: "Tôi chắc chắn Thương Thương không sao tránh khỏi bùi ngùi xúc động khi một mình lặng lẽ đọc các câu thơ xuân tình trong kịch thơ Duyên kỳ ngộ (Tr.113), "Tôi chắc chắn nhà báo họ Trần không đè nén được xúc động..." (114), "Còn những nơi ở đây mà tôi chắc bà Thương Thương ghi đậm nét trong ký ức (vì có dân chần HMT đã đến) (115); "Thử hỏi một cô gái được chàng thi sĩ tài hoa viết cho mình những lá thư, tập thơ yêu đương nồng nàn làm sao không sung sướng (không chừng tự hào, kiêu hãnh nữa đó) (tr.121)v.v... và v.v....Thật liều lĩnh cho sự "nhập vai" trên ! Những sáng tác kiểu này chẳng làm Hàn lớn dẹp thêm chút nào cả. Cũng như kiểu "trữ tình ngoại đề", sau khi giới thiệu di tích lầu Ông Hoàng, tác giả "xin đề nghị chúng ta cùng hát vang bài "Hàn Mặc Tử"...rồi "chúng ta hãy vui lòng ngâm bốn câu thơ của bà Mai Đình..."(75). Sau đó tác giả tiếp tục đề nghị ngâm tám câu của Bích Khê rồi kết thúc bằng bài thơ 36 câu của Huyền Diệp Tử (Tr.76), cũng là chính tác giả với bút danh. Trời ơi, đừng làm vậy !

Kết luận: Quyển sách có nhiều tư liệu quý mà tác giả khổ công sưu tầm trong nhiều năm. Riêng chữ MẠC mà tác giả trích dẫn rất nhiều sách báo để chứng minh thì người khác cũng sẽ không thiếu cứ liệu kiểu ấy để gọi là MẶC. Theo chúng tôi, chỉ có một TỬ, dù là MẠC hay MẶC.

Dẫu sao, với số tư liệu phong phú đã có, nếu tác giả sắp xếp lại cho khoa học, mạnh dạn gạt bỏ những phần vô bổ thì đây sẽ là một quyển sách thực sự có giá trị./.

Nguồn trích: Bình Định nguyệt san.- 1998.- Số 5 (1.513);
KHPL: BĐ.04(91)
==================================

Hàn Mặc Tử



Quỳnh Dao


Hàn Mặc Tử là tác giả tập “Gái Quê” xuất bản từ hồi Octobre 1936. Một tập thơ phần nhiều tả những cảnh sắc nhà quê, cây tre, khóm lau, bờ cỏ, hay những phút yêu mong, nhớ của những cô gái quê.
Hồi tập thơ này xuất bản là hồi chúng tôi đang còn chủ trương tờ HA NOI Báo. Nhận được tập thơ ông, chúng tôi đã vui mừng giới thiệu ông-một thi sĩ mới-với độc giả, và nói rõ tính cách của tập thơ ông nó có cái phong vị mộc mạc, ngây thơ và thi vị.
Tuy cả tập GÁI QUÊ không phải bài nào cũng hay ngang bài nào, nhưng nhiều bài đủ tỏ rằng tác giả có một tâm hồn đa cảm lắm, một tâm hồn nồng nàn của thi nhân, và vì thế Hàn Mặc Tử đã ở trên nhiều những ông thợ thơ khác. Ta phải nói hẳn ngay Hàn Mặc Tử là một thi sĩ.
Bài mà chúng tôi thích nhất trong quyển GÁI QUÊ (hồi ấy có trích đăng lại ở Hanoi Bao) là bài TÌNH QUÊ mà bạn Quỳnh Dao cũng có trích ở đoạn đầu bài dưới này.
“Tình Quê” có một âm điệu như “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư. Đọc lên, ta nghe như tiếng gió rào rạt trong khóm tre một buổi chiều hôm, tiếng nghe văng vẳng buồn, một cái buồn nhè nhẹ.
Nhưng, đó mới chỉ là mấy vần thơ đầu. Sau này thơ của Hàn Mặc Tử còn “hứa hẹn” nhiều và đi qua từ Sáng-Tạo, sang Siêu-Việt và gần đây lại hơn nữa là Điên lúc Hàn Mặc Tử đau buồn quá.
Muốn độc giả rõ Hàn Mặc Tử hơn, tôi xin nhường lời cho thi sĩ Quỳnh Dao, người đã gặp Hàn Mặc Tử và đã sống những phút đầy đủ bên Hàn Mặc Tử.
Lê Tràng Kiều

Mùa hè năm 1937, tôi gặp Hàn Mặc Tử ở Quy Nhơn. Rất cảm động khi thấy một thân hình tiều tụy, như van lơn cầu khẩn một điều gì. Dù gặp lần đầu, mà đã thân nhau. Vì chúng tôi quen nhau đã lâu trong tập “Gái Quê”!
“Gái Quê”, tập thơ đầu của Hàn Mặc Tử, tuy chưa được hoàn toàn đặc sắc, nhưng đã chiếm một địa vị rất cao rồi. Lời đi nhẹ nhàng uyển chuyển như hơi may, đọc lên nghe ngọt đến đáy hồn, cho nên dễ nhớ. Trong đó, thỉnh thoảng chơi vơi một nổi buồn kín đáo.
…
Từ ấy anh ra đi
Bóng trăng vàng giải cát,
Cánh cô nhạn bơ vơ…
Liệng dưới trời xanh ngắt,
Từ ấy anh ra đi,
Tiếng dương cầm vắng bặt,
Dường tan trong đám sương,
Thoảng về nơi làng mạc…
(Nhớ Nhung)

Và đã mấy khi ta nghe một điệu nhạc hiền từ:
Trước sân anh thơ thẩn
Đăm đăm trông nhạn về
Mây chiều còn phiêu bạt
Lang thang trên đồi quê
Gió chiều quên ngừng lại;
Giòng nước luôn trôi đi…
Ngàn lau đường đê mê.
Cách nhau ngàn vạn dặm,
Nhớ chi đến trăng thề
Dầu ai không mong đợi,
Dầu ai không lắng nghe
Tiếng buồn trong sương đục,
Tiếng hờn trong lũy tre,
Dưới trời thu man mác,
Bàng bạc khắp sơn khê.
Dầu ai trên bờ liễu,
Dầu ai dưới cành lê…
Với ngành xanh hờ hững,
Cố quên tình phu thê,
Trong khi nhìn mây nước
Lòng xuân cũng não nề…
(Tình quê)

Giữa hỗn tạp của thứ thơ Tây, Hàn Mặc Tử lần đầu tiên cho ta nghe một điệu nhạc ngọt ngào:
Kìa anh xem! Giải mây hờ trên đỉnh núi,
Buổi chiều hôm đã nhuộm một màu lam
Và trên không hàng cò trắng đương làm
Một bài thơ dài không vần điệu.
Bài thơ ấy xóa dần trong rặng liễu,
Mà chúng ta – thi sĩ – đương mơ say
Đương lặng nhìn hiện tượng của trời mây,
Lòng ta bổng xôn xao và nức nở.
Rồi tự nhiên âm thầm trong tiếng thở,
Lời ca ngâm vang dậy khắp đồi thông,
Khiến vi lau im lặng, suốâi không ngừng,
Không lay nữa cũng không thèm chảy nữa.
Chỉ ngây ngất lắng nghe lời mai mỉa
Những linh hồn vất vả vì yêu thương
Kìa anh xem! Cô gái đứng bên đường!
Mặc yếm thắm, dáng ngây thơ và bẽn lẽn;
Hái rau sam, nhưng xuân tình không thể nén
Trên làn môi ươn ướt như thèm duyên.
Mà chúng ta – thi sĩ – lặng triền miên
Đương tìm vần: trẻ, đẹp, non trong nếp áo.
(Hồn Thơ)

Đây, là một câu trả lời rất sâu cho phái cũ ghét thơ mới. Họ tưởng rằng thơ mới là một thứ thơ lởm chởm những đá sỏi, không âm điệu, không ý tứ, như hầu hết của những nhà lạm dụng chữ thi sĩ trước khi “Gái Quê” ra đời. Những nhà thơ non nớt ấy, vô ý gieo mầm họa lớn cho tính cách thơ mới, làm mất lòng tin cậy của người đi.
Buổi đầu, xuân trong lòng mới dậy, thi sĩ bồng bột lạ thường. Ai ngăn cản được những ý lẳng lơ, những lời hổn hển.
Từ gió xuân đi, gió hạ về
Anh thường gửi gắm mối tình quê.
Bên em mỗi lúc trên đường cái
Hóng mát cho lòng được thỏa thuê… Em có ngờ đâu trong những đêm
Trăng ngà giải bóng mặt hồ em
Anh đi thơ thẩn như ngây dại
Hứng lấy hương nồng trong áo em (Âm thầm)

Trăng nằm sóng soài trên ngành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi!…
Trong khóm vi lau rào rạt mãi
Tiếng lòng ai nói? Sao im đi!
Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe…
Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm.
Em sợ lang quân em biết được ,
Nghi ngờ tới cái tiết trinh em…
(Bẽn lẽn)

Hàn Mặc Tử khéo dùng những ý quê. Gió hôn trên má, với một nàng quê đã lấy làm bẽn lẽn. Ấy là nghệ thuật tinh vi!
Thế là ý tứ
Với tập “Gái Quê” Hàn Mặc Tử đã xứng đáng làm thi sĩ rồi!
Sao lại:
Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ
Em lấy chồng rồi hết ước mơ…
Đó chẳng qua thi sĩ hờn lẫy, trong chốc lát. Trời còn bắt anh làm thi sĩ mãi mãi, vì trời đã gieo trong người anh, sự nghiệp anh… một bài thơ!
Trời ơi! Trời bắt Hàn Mặc Tử làm thi sĩ rồi!
Đời anh càng lạ, lời thơ càng lạ hơn. Thơ anh lại bước sang thời kỳ sáng tạo!
Thời kỳ sáng tạo là cuộc cách mệnh trong thơ. Giữa lúc làm cho âm điệu ấy bằng phẳng rồi lại kêu vang lên, rồi lại bằng phẳng; ý tứ đi từ từ rồi lại lạ lùng quá, khiến ta phải để ý, ngừng lại để hưởng dư âm của hơi thở, cho lòng đi sâu vào để phân chất cái dụng công thi sĩ.
Thời kỳ sáng tạo làm cho thơ mới lạ hơn, làm cho thơ thoát sáo, một là về cách chọn chữ, hai là về cách đặt câu.

Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều
Để nghe dưới đáy nước hò reo…
Để nghe tơ liễu run trong gió,
Và để xem trời giải nghĩa yêu!
(Đalat trăng mờ)

Nào đâu tráng lệ một thời xanh,
Mai vị thơm tho của ái tình,
Đố kiếm cho ra trong lớp bụi,
Ít nhiều hơi hám của kiên trinh
(…)

Đã có khi nào có ước mơ
Rồi đây khai mạc cuộc đời thơ,
Bằng đêm hôm ấy êm như rót
Lời mật vào tai, ngọt sững sờ…
(Tối tân hôn)

Một buổi chiều gần lặn, ngồi trên bãi biển Quy Nhơn. Tôi thinh lặng nghe anh cầu khẩn những vị thiêng liêng!
Trời hỡi bao giờ tôi chết đi.
Bao giờ tôi hết được yêu - Vì!
Bao giờ mặt nhật tan thành máu,
Và khổ lòng tôi cứng tợ si!

Tôi hãy còn đây hay ở đâu?
Ai đem tôi bỏ xuống trời sâu!
Sao? Bóng phượng nở trong màu huyết,
Nhỏ xuốâng lòng tôi những giọt châu!

Lòng tôi nao nao đi trong một ngọn gió buồn từ xa thổi lại. Tôi lẩm bẩn: “Hàn Mặc Tử là yêu Ma” Dưới mấy lá dừa biếc sắc, hơi đêm càng làm rõ những nét ghê rợn của người anh. Thốt nhiên anh nói:
-Thôi ta đi về, tôi biết về thì tiếc trời tiếc nước, tiếc bao nhiêu là thơ nhưng tôi không dám ngồi chờ cho sương xuống.
Tôi lẳng lặng đem anh về. Những nét xương dưới áo lụa Quy Nhơn phai màu, theo sức gió, nổi hằn lên mỗi khi anh đi qua một ngọn đèn. Anh đi thất thểu như một người điên, dưới cằm lâu ngày không cạo, với bộ mặt bạc nhược, tuy ít tuổi đã để ra vài sợi râu!
Và ngày mai, khi nắng lên là Hàn Mặc Tử không thể ra ngoài đường được. Anh yếu lắm, mẹ anh buồn, và thơ anh buồn…
Anh đã kể tôi nghe hầu hết những mẫu đời, tôi chỉ nói anh là một Nạn Nhân, thế thôi! Những việc riêng tôi muốn giữ kín để thơ anh được giữ kín những nhiệm mầu.
Lời thơ không đi theo sự dồi dào của thực tế, thì lời thơ chỉ tặng những người mang chung một điệu lòng! Người ngoài có ai ưa đâu, người ngoài bạc đãi. Trời hỡi! Bao giờ ai ai cũng biết yêu thơ như ta.
Nhiều khi anh như ngây dại, nhắm mắt đuổi một ngày đẹp đã qua…

Trăng đang nằm trên sóng cỏ
Cỏ đưa trăng đến bên ao,
Trăng lại đắm mình xuống nước,
Trăng nước đều ngủ với nhau!
Đôi ta bắt chước thì sao!

Đọc câu ấy, tự nhiên đầu ta cứ chuyển! Hay là ta say!
Thời kỳ siêu việt làm bài thơ huyền ảo hơn, sâu xa ngâm ngầm hơn… Ta phải đi vào đến đáy thơ lòng ta ớn lạnh!

Hãy van lơn ở dưới chân Bàn Thánh
Cho yêu ma muôn năm vùng trở dậy
Náo không gian cho lửa hồng bùng cháy,
Và để cho kinh động đến người tiên…
Đang say sưa ở thế giới ảo huyền
Đang trừng dởn ở bên sông Ngân biếc
Anh rõ trước, sẽ có ngày cách biệt,
Ngó tuy gần, song vẫn thiệt xa khơi
Lau mắt đi! Đừng cho lệ đầy vơi,
Hãy mường tượng một người thơ đang sống,
Đang im lìm lẻ loi trong giẫy động.
Cũng hình như em hỡi! Động Huyền không!
Mà đêm nghe, tiếng khóc, ở đáy lòng,
Ở trong phổi, trong tim, trong hồn nữa,
Em có nghĩ ra… một chiều vàng úa.
Lá trên cành héo hắt gió ngừng ru
Một khối tình nức nở giữa ám u,
Một hồn đau đã lần theo hương khói
Một bài thơ cháy tan trong nắng dọi,
Một lời run hoi hóp giữa không trung.
…
Anh càng đau đớn bao nhiêu thơ anh càng tha thiết. Rồi dần dà đem anh vào thế giới lạ hơn:
Điên:

Ha! Ha! Ta đuổi theo trăng!
Trăng bay lả tả ngả lên cánh vàng…
Tới đây, là nơi ta được gặp nàng,
Rủ rê, rủ rê hai đứa vào rừng hoang,
Ta lượm lá trăng làm chiếu trải,
Chúng ta kê đầu lên khối sao băng!
Chúng ta nói chuyện bằng hơi thở,
Đon đón hoa cỏ biến ra thơ,
Chúng ta lại là người của ước mơ,
Không xác thịt, chỉ có linh hồn đang mộng
…
Cách đây tám tháng tôi ghé Quy Nhơn thăm anh, vì có việc gấp tôi phải đi ngay, nên chỉ ngồi chơi với anh được chừng năm phút. Bệnh anh càng ngày nặng, nước da anh đã thay màu. Nhìn thấy một cảnh tưởng thê thảm nghèo nàn, tôi cảm động quá, cầm lấy tay anh. Một bàn tay đã viết ra bao nhiêu là ngà ngọc mà nay lại khô và thâm tím, một bàn tay (tôi biết lắm) không ai dám cầm tay, mà anh cũng không đưa cho ai cầm.
Tôi hứa với anh, sẽ trở lại sau khi đi Đà Lạt về. Nhưng mà khi về, anh không còn ở đó nữa. Theo lời Chế Lan Viên thì mẹ anh không muốn cho anh trông thấy chúng tôi, không muốn cho anh trông thấy những cảnh ngoài xinh quá, sợ lòng anh lại chua chát thêm. Anh đã bị đưa vào một chổ vắng, một gian nhà có ít người qua, gần mé núi. Thường ngày chỉ có người đem cơm và thuốc uống. Cái nhà ấy bọn chăn trâu gọi là nhà “thằng ốm”! Biết đâu trong ấy lại chứa một hồn thơ thơm lắm.
Cảnh tình, nghèo ngặt, những người yêu anh thì cũng gần một số phận. Duy chỉ có anh Quách Tấn ở Nha Trang thường vẫn để tâm tới.
Tôi thường được tin anh, nên biết cả ngày cả đêm, công việc của anh chỉ có:
Ăn, ngủ, rên, khóc, ngâm thơ và… cầu nguyện.
Hãy mường tượng một người thơ đang sống
Được im lìm lẻ loi trong giãy động,
Cũng hình như em hỡi1 Động Huyền Không!
Mà đêm nghe tiếng khóc ở đáy lòng,
Ở trong phổi, trong tim, trong hồn nữa.

À té ra, một lời thơ năm xưa, mà nay thành sự thật.


Nguồn trích: Văn phẩm Quỳnh Dao.- H.; 1999 (2033);
KHPL: BĐ.04(91)

Bài thơ cuối cùng của Hàn Mặc Tử

Bài thơ cuối cùng của Hàn Mặc Tử



Phan Cao Toại


"Mai sau, những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi,
và còn lại ở cái thời kỳ này chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử ".
(Chế Lan Viên)
Trong các nhà thơ tiền chiến, Hàn Mặc Tử ở vào một hoàn cảnh rất đặc biệt: Ông mắc bệnh phong vào khoảng 1930, phát bệnh năm 1936 và mất ở nhà thương phong Quy Hòa (Quy Nhơn) ngày 11/11/1940.

Trước năm 1941, năm các nhà khoa học tìm ra DDS, một loại thuốc đặc trị bệnh phong, bệnh này được xếp vào một trong tứ chứng nan y. Do những tổn thương bệnh làm lở loét tứ chi, mặt mũi sần sùi trông rất gớm ghiếc, người đời mặc cảm với những người mắc bệnh phong, tìm cách xa lánh họ. Hàn Mặc Tử cũng rơi vào tình trạng như vậy. Năm 1936, khi kỳ lưng cho Tử, mẹ ông chợt phát hiện trên lưng con mình có những đám màu hồng nhạt. Hỏi, Tử cho biết một đêm đi chơi với Mộng Cầm, khi về bị trời mưa, và trên đường lại qua một khu mả mới. Tưởng rằng Tử bị mề đay, cả nhà không ai để ý. Những mảng đỏ trên da cứ ngày một lan rộng và sau đó hai dái tai cũng bị sưng đỏ. Căn cứ vào những mô tả của ông Nguyễn Bá Tín, em ruột của nhà thơ hiện đang sống ở Nha Trang thì những thương tổn như vậy là những dát phong, tương đương giai đoạn BL của bệnh phong. Đi khám thầy thuốc bắc, thầy bảo bị phong (một chứng ngứa thông thường) và cho uống thuốc tễ. Bệnh của Tử vẫn không thuyên giảm. Thương con, mong cho con mau khỏi bệnh, bà mẹ của Tử đưa con đến khắp lượt các danh y trong vùng. Các thầy thuốc bắc thời bấy giờ có quan điểm rất lạ: lấy độc trị độc nên đã cho Tử uống các loại thuốc có nọc rắn mai gầm, nọc rắn hổ mang. Trước đó, khi từ Sài Gòn về, tử đã nhận lời làm biên tập cho tờ "Phụ nữ Tân văn" nên rất nóng lòng trở vào nhận việc. Chính vì vậy, Tử đã uống gấp đôi, gấp ba liều quy định. Có khi uống xong mặt mày xây xẩm, ngã lăn xuống đất. Các loại nọc rắn có độc lực rất mạnh đã làm hỏng gan và thận và cuối cùng, Hàn Mặc Tử được đưa vào điều trị ở Quy Hòa (21/9/1940). Hồ sơ nhập viện mang ký hiệu 1134 còn ghi rõ: bệnh nhân Nguyễn Trọng Trí (tên thật của nhà thơ), chẩn đoán lúc vào: Lèpre bacteriloriquement confirmé (phong thể nhiều vi khuẩn) và lúc ra: Tử vong vì kiết lị.

Tử đến Quy Hòa vào một sáng mùa thu chớm lạnh. Hành trang chẳng có gì, trong túi không một đồng xu. Tử mặc bộ quần áo bà ba trắng đã cũ, đi đôi giày ba ta sờn, đội chiếc khăn bông trắng dài quá lưng, chừng như sợ lạnh. Các nữ tu người Pháp đón Tử với một tình cảm thương mến. Soeur Juetta, người làm việc lâu năm ở đây đã tự tay trải giường cho Tử nằm, pha sữa cho Tử uống. Mẹ Marie de la Resuression, giám đốc nhà thương nhận hồ sơ từ bệnh viện Quy Nhơn chuyển đến, bố trí cho Tử nằm ở giường số 3 khu nhà lá tập thể đối diện với nhà thờ. Ở đây Tử đã sớm làm quen với những người bạn cùng cảnh: anh Nguyễn Văn Xê (mới mất năm 1993), anh Nguyễn Văn Trung có quán tạp hóa nhỏ dành cho người bệnh và hai người Pháp cũng bị bệnh phong ở nhà bên cạnh. Anh Xê kể lại rằng, lúc đó không ai biết Tử là nhà thơ, là người có học nhưng do Tử rất hiền lành nên ai cũng mến thương Tử. Anh Xê còn cho biết thêm, Tử giỏi tiếng Pháp nhưng không khi nào dùng tiếng Pháp để nói chuyện với các soeur. Cho đến một hôm, người giúp việc cho Tử - em Hành - đưa đồ ăn từ Quy Nhơn vào mang theo cuốn sách cũ, cuốn Deux centmorceaux de poemes 'd auteurs Francais (hai trăm bài thơ của các tác giả Pháp), Xê hồ nghi và cằn nhằn: "Anh biết tiếng Pháp sao cứ bắt tôi làm thông ngôn hoài !". Tử cười: "Anh em mình cả mà, ai nói mà không được !". Trong thời gian Tử nằm điều trị ở Quy Hòa, anh Xê cho biết, ngoài em Hành, không có ai vào thăm. Có lẽ bây giờ người đời ghê sợ và xa lánh bệnh nhân phong.

Tình trạng của Tử lúc ấy rất bi đát: "Hai mắt nằm lọt vào hai lỗ hõm sâu hoắm đến không còn mở ra được. Thân hình chỉ còn da bọc xương, chân tay co rút mà đầu tóc bù xù rối trết lại, trong đó nhô nhúc những chấy là chấy (Thư của anh Nguyễn Văn Xê đề tại Quy Hòa ngày 25/3/1941)".

Với thực trạng như vậy, việc sáng tác của Hàn Mặc Tử rất khó khăn. Ông có viết thư cho gia đình và bạn bè. Qua nét chữ xiêu vẹo, người ta thấy được thảm cảnh của Tử lúc ấy.

Sau một thời gian điều trị khoảng ba tuần lễ, nhờ sự chăm sóc của các nữ tu dòng Franciscain đặc biệt đặc biệt nhờ sự tận tình chăm sóc của soeur Juetta, sức khoẻ của Tử khá lên rất nhiều. Tử đề nghị các soeur cho tiêm thuốc Huille de moogra ethereé, loại dầu chế từ hạt đại phong tử, do bác sĩ Gourvit, giám đốc bệnh viện Quy Nhơn chế.

Tiêm được một mũi chừng một phần ba phân khối, Tử cảm thấy rất mệt, kèm theo sự rối loạn hấp thu do tì vị bị hư hỏng, Tử bị kiết lỵ, cơ thể suy sụp rất nhanh chóng buộc các soeur phải đưa vào buồng biệt lập. Tử lường được sức, chuẩn bị cho mình một cái chết thanh thản. Một hôm, soeur Julien đến thăm Tử. Biết Tử không qua nổi, nhiều người bệnh quanh đó lo lắng theo dõi từng cử chỉ của soeur. Souer Julien có tài chẩn bệnh bằng cách bắt mạch. Khi thấy souer chau mày, lắc đầu, mọi người đều thất vọng. Linh mục Nicola Cận được mời đến xức dầu và làm phép giải tội cho Tử. Tử không chịu nằm mà quỳ xuống dưới chân cha. Cha khẽ đỡ Tử dậy và bảo: "Con ngồi". Tử khẽ gật đầu: "Dạ" và đây là lần xưng tội sau cùng.

Những giờ phút cuối đời của Tử, anh Xê thường có mặt bên cạnh. Đêm 8/11/1940 đến ca trực đêm của anh Xê, Tử đột ngột ngồi dậy lấy trong chiếc áo gối mang theo từ nhà hai tập giấy đánh máy mỏng rất đẹp và hỏi anh Xê: "Anh Xê có tình yêu chưa ?". Xê trả lời: "Tôi từ nhỏ tới giờ chỉ có tình yêu với Thiên chúa". Tử nói tiếp: "Đây là gia tài của tôi, xin tặng anh tập thơ Cầu Nguyện" và lấy bút chì trong túi áo ra ghi dòng chữ: thơ Cầu Nguyện đề tặng anh Xê - Francois Trí. Đó là tập thơ đánh máy trên giấy poluya mỏng, chữ không có dấu. Anh Xê phân vân: "Không có dấu làm sao tôi đọc được ?". Tử: "Để khi nào mạnh tớ thêm dấu cho". Tử vẫn lạc quan, tin yêu cuộc sống ngay cả khi thần chết đã đến gần kề.

Đặc biệt, trong 51 ngày ở Quy Hòa, do sức khỏe bị suy kiệt, Tử chỉ viết một bài thơ văn xuôi, viết bằng tiếng Pháp có nhan đề: " La purté de âme" (sự trong sạch của tâm hồn). Bài thơ được viết trên giấy ca rô kẻ nhỏ với cây bút chì cùn dài non đốt ngón tay và tuyệt nhiên không một dấu tẩy xóa, không một lỗi chính tả nào. Ngờ đâu, đó là tác phẩm cuối cùng kết thúc cuộc đời tài ba sau hơn mười hai năm cầm bút. Bài thơ được viết vào những đêm khuya, khi những người bệnh đã ngủ. Cuối bài thơ có ghi rõ ngày tháng trong đó có một đoạn như sau:

Pureté de I âme
...Anges du Ciel, Anges du Dieu
Anges de Paix et de Gaieté
Lancez-vous des roses et des nénupherds
des chant mélodieux et des notes enbaumeés
et versez avec effusion les vertus, le courage
et labonheur parmi les servantes de Dieu
Nuit de Mercredi 24 Octobre 1940

Tạm dịch:
Sự trong sạch của tâm hồn
Hỡi Thiên thần của Trời, Thiên thần của Chúa,
Thiên thần của Hòa bình và Hoan lạc,
Xin hãy ném cho nhau những đóa hoa hồng, hoa súng
Những điệu hát reo rắt và những nốt nhạc thơm tho
Và hãy xin tưới trút cho tràn trề nào là đức hạnh,
Can đảm và hạnh phúc cho những vị nữ tu của Thiên chúa.

Đêm thứ tư, 24/10/1940
Francois Trí.

Đây là bài thơ Tử viết tặng các souer, những ân nhân, những người mẹ, người chị của mình ở Quy Hòa. Sau khi Tử mất, người ta tìm được trong túi áo ngực của Tử và trao lại cho các souer.

Suốt thời gian ở Quy Hòa, Tử vận động rất khó khăn, phải có người dìu hai bên nách mới ra được chỗ ăn cơm. Mặt khác, da tay bị cứng lại, cầm bút rất khó. Đây là thời kỳ khủng hoảng trong sáng tác vì Tử hàng ngày hàng giờ phải đối mặt với thần chết. Có được một bài thơ như vậy là một nỗ lực phi thường của Tử. Tiếc thay bài thơ đó lại không được những người làm tuyển tập thơ Hàn Mặc Tử chọn vào.

Trải qua bốn năm vật lộn với bệnh tật, tử phải chịu nỗi đau đớn cùng cực cả thể xác lẫn tinh thần. Dù được các souer tận tình cứu chữa nhưng do cơ thể suy kiệt, Tử đã lặng lẽ qua đời lúc 11 giờ sáng ngày 11 tháng 11 năm 1940.

Gia đình ở xa, bạn bè ở xa, không một ai đến đưa đám, không ai thắp một nén nhang hay một vòng hoa tưởng niệm trên mộ Tử. Chỉ có các souer, những người bạn bệnh cùng thời theo sau chiếc xe tang phủ vải đen và những lời cầu kinh vĩnh biệt.

Than ôi, Hàn Mặc Tử thiên tài đã vĩnh biệt chúng ta khi tuổi đời 28. Sự bất lực của y học thời bấy giờ đã cướp đi sự sống của nhà thơ. Hàn Mặc Tử không phải chết vì bệnh phong mà vì sự sai lầm của những ông lang băm dốt nát. Ngày nay, bệnh phong không còn là chứng nan y và với quyết tâm của ngành y tế, bệnh phong sẽ được thanh toán vào năm 2000. Ở Quy Hòa, nơi Hàn Mặc Tử nằm điều trị và viết bài thơ cuối cùng hiện có một phòng lưu niệm về nhà thơ tài ba nhưng bất hạnh này.

Nguồn trích: Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh.- 1998.- Số 10 (Ngày 9 tháng 4) (1.594);
KHPL: BĐ.04(91)
======================================






--------------------------------------------------------------------------------



Nhớ Hàn Mặc Tử



Nguyễn Viết Lãm



Giữa những năm ba mươi, nhóm thơ Quy Nhơn từ Thái Dương văn đoàn ở Bình Định mở rộng, bao gồm cả các nhà thơ đang sống hoặc đang học ở trường Quốc học Quy Nhơn, tụ tập họp lại để giúp đỡ nhau sáng tác, gần gũi yêu thương nhau, vì hầu hết những người trong nhóm đều thuộc tầng lớp nghèo cả. Ngày ấy, cũng từ Quy Nhơn ra, nhưng các anh Xuân Diệu, Nguyễn Xuân Sanh đều đã rời trường ra Huế và Hà Nội, anh Phạm Văn Ký thì sang Pháp trước đó. Nhà thơ và nhà bác học Bùi Văn Lãng chỉ chuyên dịch thơ cổ điển Việt Nam sang Pháp văn nên ít có quan hệ với anh em "thơ mới'. Chế Lan Viên và tôi đang học năm thứ hai trường Quốc học. Yến Lan vẫn thường ở trên thành Bình Định, thỉnh thoảng mới xuống thành phố. Lớn tuổi hơn chúng tôi lúc ấy có Hàn Mặc Tử và Hoàng Diệp. Cả hai anh đều là nhân viên ngành Đạc điền trong một thời gian ngắn và đều đã làm thơ trước chúng tôi khá lâu. Hoàng Diệp là bạn của anh Thanh Tịnh, cùng quê Thừa Thiên. Nổi bật trong nhóm thơ chung là Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên.
Tôi được gặp Hàn Mặc Tử vào giữa năm 1936, nhưng tên tuổi của anh đã được thành phố, đặc biệt đối với anh em học sinh, biết rộng rãi từ lâu. Thầy dạy văn của chúng tôi là giáo sư Trần Cảnh Hảo (ông đồng thời là người dạy văn của nhiều thế hệ học sinh sau này trở thành nhà văn, nhà thơ có tiếng trong nước). Thầy nguyên là một nhà nho, từng đi thi hương, sau mới học Cao đẳng sư phạm Hà Nội, có ảnh hưởng lớn đối với chúng tôi. Chính thầy Hảo là người đầu tiên nói với tôi về anh Hàn Mặc tử, vì năm 1933 Hàn Mặc Tử tuy tuổi còn rất trẻ đã cùng với thầy Hảo và nhiều trí thức tiêu biểu khác tham gia giám khảo cuộc thi thơ ở Quy Nhơn. Thời bấy giờ, việc cụ Phan Bội Châu xướng họa thơ và khen phục tài thơ của Hàn Mặc Tử đã tạo cho anh một tiếng vang lớn trong xã hội.
Hàng ngày đi học, tôi qua trước hiên nhà Hàn Mặc Tử, một dãy nhà nhiều gian, thấp nhỏ của nhiều gia đình cùng thuê ở gần Ngân hàng Pháp Hoa. Một ngày chủ nhật, Chế Lan Viên dẫn tôi đến thăm anh. Anh tiếp chúng tôi, ân cần và chan hòa, như đối với những người em ít tuổi. Hàn Mặc Tử vóc người nhỏ gầy, giọng nói Quảng Bình pha lẫn giọng miền trong nhỏ nhẹ như thầm thì tâm sự. Hôm đầu tiên ấy, anh ít nhắc đến thơ Đường luật của anh tuy anh đã có nhiều bài bát cú tuyệt hay. Tuy viết theo luật Đường, thơ anh tài hoa, khoáng đạt khác hẳn lối thơ cử tử, những câu thơ đối nhau khá chặt chẽ mà vẫn tự nhiên trôi chảy với những từ dân dã:
..."Vội vàng cánh nhạn bay đi trớt
Hiu hắt hơi may thoảng lại rồi
Nằm gắng đã không thành mộng được,
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi
Ngàn trùng bóng liễu trông xanh ngắt
Chỉ có thông kia chịu với trời".
Từ sau buổi gặp ấy, Hàn Mặc Tử thường bảo tôi năng đến với anh. Cuối năm 1936, anh tặng tôi tập thơ Gái quê, tập thơ đầu của anh. Hàng chữ anh viết tặng đến nay tôi vẫn còn nhớ rõ từng nét, lối viết phóng khoáng, chữ ký rõ ràng, chân phương. Tiếc rằng tập thơ quý giá ấy bị thất lạc trong những ngày kháng chiến chống thực dân Pháp ở Liên khu 5.
Anh biết tôi là người Quảng Ngãi nên thường nhắc tới với tôi những kỷ niệm riêng của anh có liên quan tới địa phương này. Anh nói với tôi về Bích Khê, bảo rằng anh đang viết bài tựa cho tập thơ Tinh huyết của Bích Khê, anh bảo: "Mình thích Bích Khê và thơ cậu ấy không chịu khép mình vào khuôn cũ của ai cả". Hàn Mặc Tử khuyến khích tôi viết, mạnh dạn viết, vì anh thấy tôi có phần rụt rè trước mặt anh. Anh động viên: "Gắng viết, làm tựa cho Bích Khê xong, mình sẽ giúp Lãm tập hợp thơ lại và sẽ viết tựa cho Lãm". Tôi xúc động trước sự chăm sóc của anh, nhưng tiếc thay, việc ấy chưa kịp làm thì anh lâm bệnh nặng.
Sau này, tôi hiểu vì sao Hàn Mặc Tử lại chú ý đến Quảng Ngãi, quê tôi. Trong cuộc đời riêng của anh, một nỗi đau lớn gây cho anh một vết thương rỉ máu không bao giờ hàn gắn được. Nhưng mối tình đau khổ ấy lại là chất men cho tài năng sáng tạo của anh, y như vết thương trong lòng con trai, tạo nên hạt ngọc. Mộng Cầm, người anh yêu tha thiết, đã rời bỏ anh sau khi biết anh bị bệnh hiểm nghèo. Mộng Cầm tên thật là Nghệ, gọi nữ sĩ Ngọc Sương là dì, gọi Bích Khê là cậu quê ở Quảng Ngãi. Chị Mộng Cầm là bạn học với tôi ở lớp nhất trường tiểu học Quảng Ngãi, lớn hơn tôi năm tuổi. Dung nhan không lộng lẫy nhưng có đôi mắt đẹp và một tâm hồn nhiều xúc cảm. Đối với Mộng Cầm, tôi là bạn học, đối với gia đình Ngọc Sương, tôi là người thân, tôi rất buồn khi người bạn gái lớn tuổi ấy đã làm cho Hàn Mặc Tử tan nát cả lòng mình. Một hôm, đến chơi Hàn Mặc Tử, nhân nhắc đến quãng đời tuổi nhỏ của anh ở Sa Kỳ, một cửa biển ở Quảng Ngãi, tôi vô tình nói: "Từ Sa Kỳ, anh chỉ qua một cửa sông là đến quê chị Mộng Cầm, quê của Bích Khê rồi !". Chợt thấy anh lặng người chốc lát, tôi ân hận, sực nhớ mình đã gợi lại cho Hàn Mặc Tử nỗi đau xưa. Sau này, tôi có được thư của Chế Lan Viên viết cho tôi sau ngày giải phóng đất nước, cho biết ở Quy Nhơn người ta gọi con đường lên Gành Ráng, Quy Hoà, nơi có mộ Hàn Mặc Tử, là dốc Mộng Cầm. Chế Lan Viên tỏ sự bất bình về việc đó. Chế nói: "Đáng lẽ phải gọi là dốc Mai Đình mới phải".
Vậy Mai Đình là ai ? Người thiếu phụ ấy, vóc nhỏ mình gầy, không thuộc vào lớp người nhan sắc, nhưng tâm hồn chị đẹp xiết bao. Có sách viết rằng Mai Đình yêu thơ Hàn Mặc Tử, bèn trốn nhà đi từ quê Thanh Hóa tìm vào xin gặp. Mai Đình đúng là quê tỉnh Thanh, nhưng đã theo cha vào Phan Thiết. Từ đây, chị ra Quy Nhơn, nhờ người quen là Trần Kiên Mỹ, một bạn văn của Hàn Mặc Tử, đưa tới giới thiệu. Mai Đình yêu thơ Tử đắm say một cách kỳ lạ. Tôi chưa nghe chị nhắc tới Mộng Cầm bao giờ, nhưng chúng tôi đoán biết rằng chị đã rõ mối tình đau khổ của Hàn Mặc Tử, đã biết tài thơ lớn của anh ngay lúc còn ở Phan Thiết, vì cũng chính nơi đây, nơi Lầu Ông Hoàng này (một thắng cảnh của Phan Thiết), Hàn Mặc Tử gặp và yêu Mộng Cầm. Trong hoàn cảnh cô đơn buồn đau, Hàn Mặc Tử hết sức cảm kích trước mối tình của chị, nhưng lúc đầu anh nghĩ rằng chỉ là một mối tình vô vọng. Nhưng sau, trước tấm lòng tha thiết gần như hy sinh của Mai Đình, anh đã đáp lại mối tình ấy. Nên biết rằng lúc đó, bệnh phong hủi đã được khẳng định trên cơ thể, trên khuôn mặt của Hàn Mặc Tử. Những mảng ửng đỏ trên gò má, lông mi rụng hết trên đôi mắt không làm cho Mai Đình xa lánh. Lúc bấy giờ, chỉ có người thân trong gia đình và chúng tôi, những bạn thơ của anh đến với anh mà thôi. Tôi không tán thành việc thần thánh hóa tình yêu của Mai Đình, nhưng phải nhận rằng chị có một tấm lòng cao quý. Thời gian gần gũi chưa bao lâu thì Mai Đình phải từ giã người mình yêu, do quan hệ gia đình không thuận lợi. Từ đó về sau, tôi được biết Mai Đình đã trải qua những tháng năm vô cùng gian nan trong cuộc sống. Năm 1942, trong lần tôi nói chuyện về Hàn Mặc Tử tại câu lạc bộ Quảng Ích tại thành phố Sông Cầu, tình cờ tôi gặp Mai Đình, trông chị tiều tuỵ quá. Tôi biết rằng buổi nói chuyện của tôi đã đem lại cho chị một niềm an ủi nào đó. Sau hôm ấy, tôi không còn gặp lại Mai Đình nữa tuy tôi có ý định đi tìm chị. Trong lòng tôi, thương nhớ Hàn Mặc Tử càng khiến tôi thầm nghĩ không biết trên đường đời, Mai Đình có gặp ai là kẻ hiểu mình và trân trọng phẩm giá chân thực của mình không. Năm 1955, sau khi tập kết ra Bắc được một năm, tôi không ngờ được gặp lại Mai Đình tại nhà Chế Lan Viên ở phố Trần Hưng Đạo, trụ sở Hội văn nghệ Việt Nam. Thật là vui mừng được biết chị đã có gia đình hạnh phúc và riêng chị là "chiến sĩ thi đua toàn quốc" của ngành ngân hàng năm ấy. Trước khi mất một năm, Chế Lan Viên có gửi cho tôi một trang thơ của Mai Đình, trong đó có bài Ghen trăng chị nói đến tình yêu với Hàn Mặc Tử thiết tha đến chừng nào:
" Chị Hằng hẳn chị có bằng em chưa ?
Vì em là một nàng thơ,
Của chàng thi sĩ ước mơ mộng vàng,
Em có điệu nhạc du dương
Có đôi mắt ngọc để chàng say mê..."
Nếu anh quên mất lời thề,
Em đòi tất cả những gì của em !
Vì lòng em đã quá ghen,
Chị Hằng sao chị lại thèm duyên ta ?
Những đêm u ám trăng mờ,
Em buồn em sợ như là mất anh,
Cớ sao trăng lại ẩn hình,
Hay là trăng ở bên anh lúc này ?
Có chăng, anh hãy tỏ bày,
Để em bớt sợ những ngày còn xa..."
Sao Mai Đình không ghen với bao cô gái khác yêu thơ Hàn Mặc Tử mà lại chỉ ghen với trăng ? Quả là trong thơ Hàn Mặc Tử, vai trò của trăng đặc biệt quan trọng. Trong thơ anh, chúng ta luôn gặp trăng, càng về sau nỗi thất vọng càng tăng theo bệnh tình của anh thì trăng càng xuất hiện, càng như hiện diện thường trực trong thơ. Trăng trở nên một vật thể có linh hồn, có cuộc sống đối với nhà thơ. Trăng trở thành một ám ảnh từ trạng thái bình thường đến những biểu hiện ma quái. Trong Gái quê, bóng trăng sờ sẫm gối đã trở thành trăng vàng trăng ngọc về sau; đến lúc nhà thơ cười như điên, sặc sụa cả mùi trăng, là lúc hồn anh bắt đầu chìm sâu vào vô thức. Hình như giữa nỗi sầu điên dại và ánh sáng trăng có gì như là một tương quan bệnh lý. Gần đây, đọc hồi ký của Papilon, người tù vượt ngục, tôi thấy có đoạn viết về những người điên trong bệnh viện tâm thần càng lên cơn nặng hơn mỗi lúc có tuần trăng sáng. Không rõ ở trường hợp Hàn Mặc Tử có trạng thái ấy không ?
Đối với Hàn Mặc Tử, có nhiều sự đánh giá tuỳ tiện. Một số bài viết trong miền Nam thời Mỹ - Nguỵ đã thêu dệt và ly kỳ hóa cuộc đời của Hàn Mặc Tử, hoặc đề cao một cách không chính xác tính chất tôn giáo trong thơ anh. Một số bài viết ở miền Bắc trong thời kỳ chống Mỹ nghiên cứu về Hàn Mặc Tử một cách thô thiển và sai lầm. Thơ của Hàn Mặc Tử bản chất trong ngần như ngọc mà ta từng gặp trong Đây thôn Vĩ Dạ hoặc Mùa xuân chín, chân chất như trong Gái quê. Đến khi anh không còn hy vọng gì về sự phục hồi sức khỏe bằng phương pháp trần gian nữa, anh đã dành những lời thơ cuối đời của anh hướng về cõi vô cùng. Khác với thơ Thiên chúa của Claudel, Hàn Mặc Tử đã nâng hồn thơ mình đến cõi thượng thanh khí, đến một vùng trời tinh khiết nào đó trong ước mơ, đến một cõi sống mùa xuân vĩnh hằng anh mong chờ, không chỉ cho riêng anh mà cả - và thiên hạ: tứ thời xuân tứ thời xuân non nước. Tâm hồn Hàn Mặc Tử vừa dịu dàng đôn hậu, vừa say đắm nhiệt thành. Tôi không bao giờ quên hình ảnh của anh, giọng điệu của anh khi anh ngâm thơ, một lối ngâm riêng anh có.
Nhà thơ lớn Mỹ La tinh Nicôla Ghiden thường khai thác những lời nói, những giai điệu dân gian để đưa vào thơ, tôi được biết Hàn Mặc Tử cũng quan tâm đến phương pháp ấy. Ví dụ, bài Trăng vàng trăng ngọc mở đầu bằng câu: Trăng, trăng, trăng là Trăng, Trăng, Trăng ! Câu thơ ấy được lặp lại hai lần nữa trong bài. Nhạc điệu lạ lùng ấy từ đâu mà có ? Trong những năm 30, trên đường phố Quy Nhơn có một người điên nhưng rất hiền, lại hay có những cử chỉ thương người một cách kỳ lạ. Anh ta người cao lớn, ăn mặc rách rưới, ngực áo đeo đầy những nắp bia, những nhãn hiệu hàng hóa màu sắc loè loẹt, tay cầm chiếc gậy ngắn, vừa đi vừa hát. Thỉnh thoảng, anh ta đứng lại, miệng nói không ngừng: "pat xi ma ! pat xi măng ! từng tằng ! tằng ! tằng, tằng, tằng, tằng !", nói xong, anh lại hát. Hình ảnh rất quen thuộc với mọi người ở Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử thường chú ý đến con người hiền lành ấy. Chính câu thơ nói trên được viết trên cơ sở câu nói vô nghĩa của người điên kia.
Năm 1942, tôi đang ở Sông Cầu, được tin có vụ kiện do anh Quách Tấn, nguyên đơn khiếu nại anh Trần Thanh Mai, với lý do anh Trần Thanh Mại đã sử dụng những bài thơ của Hàn Mặc Tử vào cuốn nghiên cứu của mình: Hàn Mặc Tử, thân thế và sự nghiệp, nhưng không xin phép Quách Tấn là người được Hàn Mặc Tử di chúc giao quyền quản lý. Vụ kiện trở thành vụ án văn học đầu tiên ở nước ta, báo chí từ Nam chí Bắc đều đăng tin và mọi người, ai cũng chờ đợi kết quả, tin ấy đã làm phiền lòng những người bạn thân của Hàn Mặc Tử. Từ Sông Cầu, tôi viết thư vào Nha Trang cho Quách Tấn và viết ra Huế cho Trần Thanh Mại, đề nghị hai anh đừng kiện nhau nữa, vì tôi không muốn tên Hàn Mặc Tử được nhắc đến trong một phiên tòa của chế độ thời ấy. Mấy hôm sau, anh Quách Tấn viết trả lời tôi: "...Nguyễn Hạnh Đàn hãy yên tâm, tôi tin rằng dưới suối vàng, Tử sẽ vui lòng về việc này..." (Trước cách mạng, tôi đăng thơ trên báo chí với tên ký Nguyễn Hạnh Đàn). Anh Trần Thanh Mại cũng viết gửi tôi, đại ý nói rằng việc kiện này là do Quách Tấn đưa ra chứ không phải anh, đồng thời anh Mại gửi tặng tôi tập sách. Tòa án Nam triều đã mở phiên tòa tại Thừa phủ ở Huế xét xử. Báo chí khắp nước đổ xô săn tin. Nguyên và bị cáo là hai nhà văn, kiện nhau về tác phẩm của một nhà thơ quá cố, chánh án giữ quyền xét xử cũng là một nhà văn, đó là Nguyễn Tiến Lãng, nhà văn viết bằng tiếng Pháp khá nổi tiếng và là em vợ của thi sĩ Tản Đà. Kết quả, Quách Tấn thua kiện (chứ không phải xử hòa như tạp chí Văn của Sài Gòn cũ đã viết).
Từ ngày Hàn Mặc Tử mất đến nay, tròn nửa thế kỷ. Phải chờ đến năm mươi năm sau, thiên tài trác tuyệt ấy mới được công nhận trong cả nước. Chúng ta vui mừng với sự đổi mới trong quan điểm đánh giá văn học của chúng ta, đồng thời cũng tiếc cho bao thế hệ phải chậm tiếp cận với một tài thơ hiếm có. Hôm nay, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, những ngọn cờ của Nhóm Quy Nhơn ngày cũ đã vắng bóng, nhưng tác phẩm của các anh đã trở thành di sản quý giá của dân tộc. Năm kia, khi Chế Lan Viên báo cho tôi biết Tuyển tập thơ Hàn Mặc Tử sắp ra đời có bài tựa của Chế, tôi vui mừng, nhân dịp ấy, tôi gửi cho Chế Lan Viên bài thơ tôi viết về người bạn lớn của chúng tôi, đoạn kết như sau:
"...Phải một nửa đường thế kỷ
Ánh sáng thơ anh mới về được với đời sau,
Tử thân yêu, hồn thơ anh chỉ một,
Hành tinh chật rồi, không chứa nổi hai đâu !".
11-1990
(Viêt vào dịp kỷ niệm 50 năm ngày mất Hàn Mặc Tử )

Nguồn trích: Tuyển tập Nguyễn Viết Lãm. - H. , 1997 (1.593);
KHPL: BĐ.04(91)

Hàn Mặc Tử, một tư duy thơ độc đáo

Hàn Mặc Tử, một tư duy thơ độc đáo



Đỗ Lai Thúy


Con người là một con vật biết chế tạo
Công cụ và biết chôn cất nhau khi chết
(R.Garaudy)

Tuyệt vời là khúc thương tâm
Biết bao tiếng nấc thành ngâm muôn đời.
(A.Musset)

“… Mai sau, những cái tầm thường, mực thước sẽ biến đi và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử” (Lan Viên - Tạp chí Ngày mới, ngày (23-11-1940) và Hàn Mặc Tử là “người đầu tiên làm cuộc cách mạng văn chương ở thế kỷ XX” (Trần Thanh Mại, Hàn Mặc Tử, Tân Việt, 1940). Những dòng chữ như khắc trên bia mộ kia ngày càng được thời gian mài sáng. Bài - viết – hành – hương - đến - với Hàn Mặc Tử này chỉ là một chìa khóa để đi vào tòa lâu đài nghệ thuật của thơ ông, khẳng định lại những điều mà bạn bè ông bằng trực giác đã khẳng định.

TÍNH TRỮ TÌNH

Thơ mới là sự tiếp nối một cách đứt đoạn dòng thơ trữ tình truyền thống – con sông cái trong hệ thống thủy văn văn học Việt Nam. Nếu Tản Đà, nhà thơ – nhà nho tài tử - kiện tướng cuối cùng, chạy đến hụt hơi mà vẫn không vượt qua ngưỡng Thơ mới, thì Hàn Mặc Tử là hiện thân sinh động cho sự tiếp tục cuộc chạy đua tiếp sức đó. Và điều cần thiết để bứt lên phía trước là lúc chạy khởi động ở cuối chặng đường thơ cổ điển, Hàn Mặc Tử dường như đạt tới tốc độ của Tản Đà.
Hàn Mặc Tử làm thơ khi còn nhỏ (1926, 14 tuổi). Sau đó một vài năm, Tử đã xướng họa với Phan Bội Châu và được ông Già Bến Ngự hết lòng khâm phục. Tập thơ Đường luật Lệ Thanh thi tập đã đạt đến trình độ mỹ học cổ điển với những câu: “khóc dùm thân thế, hoa rơi lệ, Buồn giúp công danh, dế dạo đàn”. (Thức khuya), với thuật làm xiếc ngôn từ ở bài Cửa sổ đêm khuya có 6 cách đọc. Tuy nhiên, ngay từ giai đoạn này, thơ Hàn Mặc Tử đã trổ ra những ánh khác lạ: “Hé cửa, nhìn trăng, trăng tái mặt/ Cài then, thắp nến, nến rơi châu” (Lều tranh đêm đông) hay “Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối/ Gió thu lọt cửa cọ mài chăn”…
Chuyển sang làm Thơ mới, với tập Gái quê (1936), Đau thương, Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cầm châu duyên, Hàn Mặc Tử cùng các nhà thơ khác như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương… tiếp tục đưa thơ trữ tình Việt Nam lên những đỉnh cao mới. Điều này trước hết nhờ có sự giải phóng cá nhân. Bởi lẽ, thơ trữ tình là sự chiếm lĩnh kinh nghiệm thực tại thông qua một cá nhân cụ thể. Dòng thơ trữ tình truyền thống, từ Đoàn Thị Điểm đến Tản Đà, là sự vật vả quyết liệt và đau khổ để giải phóng cá tính: chống lại những quy phạm đã thành thiên la địa võng. Cuộc vật lộn trường kỳ đó được các nhà Thơ mới kết thúc có khải hoàng ca, tuy còn đầy mặc cảm. Chưa bao giờ và chưa ở đâu như các nhà Thơ mới thâm cung bí hiểm của nội tâm được thăm dò ở nhiều tầng bậc như vậy. Sức mạnh của tiếng nói nội tâm đã phá vỡ những rào cản ngôn ngữ để đưa ra những nhịp điệu mới làm biến đổi cả ngôn từ, thể thơ và các phương tiện biểu hiện khác.
Tuy nhiên, những thành tựu trên là chung của cả “một thời đại thơ ca”. Riêng Hàn Mặc Tử, đóng góp của ông, chỉ xét ở khía cạnh trữ tình so với những người cùng thời đã có nhiều khác lạ.
Nếu Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Phạm Huy Thông, Nguyễn Bính là dòng lãng mạng thuần khiết, nếu Xuân Diệu và nhất là Huy Cận là dòng lãng mạn được cườm vào những yếu tố tượng trưng, Đinh Hùng, Bích Khê chủ yếu là tượng trưng, thì Hàn Mặc Tử là sự hoà sắc của cả lãng mạn lẫn tượng trưng, thậm chí siêu thực nữa. Dĩ nhiên, một căn cốt Đông phương thâm hậu đã làm cho tượng trưng của ông có bóng dáng tượng trưng Đường thi, và xa hơn nữa là tượng trưng Thiền, còn siêu thực thì đậm nhạt một màu sắc Liêu Trai. Điều này tạo nên sự riêng biệt, vừa phong phú vừa sâu sắc, trong phong cách trữ tình của thơ Hàn Mặc Tử.
Trữ tình Hàn Mặc Tử, trước hết, là gợi cảm chứ không phải là truyền cảm. Nhà thơ không truyền thẳng cảm xúc của mình tới độc giả nhờ phương tiện ngôn ngữ, thức dậy thứ năng lượng đó vốn tiềm ẩn trong mỗi độc giả, vì vậy mà cảm giác thẩm mỹ của người đọc no đủ hơn, sâu sắc hơnbởi như tránh được một sự áp đặt từ bên ngoài:

“ Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp chị hằng ơi’
(Bẽn lẽn)

Nhà thơ ở đây đã phóng chiếu những rạo rực bản năng ra ngoài vũ trụ. Cái nhìn của ông ve vuốt, mơn trớn cả tạo vật. Cảm giác này được thi nhân thể hiện theo lối ứng xử phương Đông vừa lộ liễu, vừa kín đáo theo lối gợi khác với cách nói trực tiếp theo lối truyền của Xuân Diệu (“Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực! Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài ! Những cánh tay! Hãy quốn riết đôi vai! Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt!”). Hàn Mặc Tử đã giăng mắc một mạng lưới các danh từ chỉ động thái nằm sõng soãi, ngây tình, hồi hộp, lả lơi… Những từ này, nếu đứng riêng rẽ thì không làm sao, nhưng một khi đứng cạnh nhau thì lập tức làm người ta nhớ đến những cụm từ khác được chuyên dùng để chỉ chuyện tình ái như gió trăng, trăng hoa, phong tình, trêu hoa ghẹo nguyệt… nghĩa là, chúng đã thu phát xạ của nhau để tạo ra một trường ngữ nghĩa khiến mỗi yếu tố ngôn ngữ trong đó đều lấp lánh cái hàm nghĩa ái ân. Cảm xúc được gợi lên từ những tín hiệu ngôn ngữ, nhờ liên tưởng, cứ lan truyền đi xa mãi như những làn sóng.
Nhà thơ cổ điển nhìn thiên nhiên như nhìn vào một tấm gương phản chiếu để tự nhận thức mình với tư cách là một bộ phận của nó, một tiểu vũ trụ. Nhà thơ lãng mạn thì sử dụng thiên nhiên như một đối tượng hưởng thụ, hoặc một công cụ để giải bầy nội tâm. Thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu thường đóng vai trò yếu tố vật liệu hay chứng nghiệm cho những ý tưởng sáng tác của ông. Nhà thơ thường lồng trăng vào những dòng tư tưởng có tính cách triết lý ( “Trăng sáng, trăng xa, trăng lạnh quá, Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ”), hay nói đúng hơn, vào một thế giới trữ tình, mà trong đó những diễn biến, nếu muốn có thể giải thích thuần nhất theo một tâm hướng của cảm giác (vầng trăng trong Lời Kỹ nữ). Hàn Mặc tử, ngược lại, thường trình bầy trạng thái tỉnh của thiên nhiên nhưng không phải một tấm gương, mà như một hoạ điệu của hồn ông, đồng thời chi phối nó trong một nét tương quan thủy chung thanh thoát:
“Ánh trăng mỏng quá không che nổi
Những vẻ xanh xao của mặt hồ
Những nét buồn buồn tơ liễu rủ
Những lời năn nỉ của hư vô”
(Huyền ảo)

Cũng như Nguyễn Khuyến trong Thu vịnh, Hàn Mặc Tử ở đây đã khéo léo gài vào trạng thái tỉnh này những chuyển động hửng hờ. Nhưng khác ông già Yên Đổ, thi nhân biết đặt các yếu tố động ấy vào môi trường ngoại ý thức để chúng chỉ đứng vai trò làm nổi bật trạng thái tĩnh. Vầng trăng, thiên nhiên… thậm chí cả con người nữa, chỉ là những tượng trưng của một thế giới vô hình, huyền ảo. Nhờ vậy, Hàn Mặc Tử đã tạo ra được một cách thuần khiết thế giới thơ của riêng ông: khi ông vẽ lên bối cảnh thiên nhiên thì đồng thời chính ông cũng tan biến vào thiên nhiên. Đặc điểm này về sau trong “giai đoạn đau thương” còn được đầy lên một bước nữa: nhà thơ đã làm mất luôn cả bối cảnh thiên nhiên ấy để thế giới thơ ông trở thành vô thường.
Tính chất vô thường của thế giới Hàn Mặc Tử còn gắn với nghệ thuật siêu thực trong thơ ông. Trong các nhà thơ Việt Nam bây giờ có lẽ không ai đậm chất siêu thực như ông. Hãy xem, cặp mắt “đau thương” của nhà thơ nhìn một bông hoa :

“ Sao bông phượng nở trong màu huyết,
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?”.

Còn đây là một tâm trạng khác của nhà thơ:

“Tôi ngồi dưới bến đợi nường Mơ,
Tiếng rú ban đêm rạn bóng mờ,
Tiếng hú hồn tôi xô vỡ sóng,
Rung tầng không khí bạt vi lô,
Ai đi lững thững trên làn nước,
Với lại ai ngồi khít cạnh tôi…”

Theo Quách Tấn kể lại thì một khuya mùa đông, Tử ngồi ngắm trăng một mình trên biển. Vắng chi là vắng. Bỗng có một bóng người ngồi khít bên Tử. Từ bóng ấy ra bóng nữa… Điều này có thực hay không không quan trọng bằng những hình tượng thơ của Hàn Mặc Tử đã tạo ra một thế giới siêu thực, ảo hoá giúp ta thâm nhập vào trạng thái tâm hồn chân thực của thi nhân.
Tại sao thơ Hàn Mặc Tử lại giàu yếu tố siêu thực như vậy? Có thể tiến trình Thơ mới gần mười lăm năm là sự tương ứng với hơn một thề kỷ thơ Pháp. Sau Lãng mạn sẽ đến Tượng trưng và Siêu thực. Hàn Mặc Tử, tuy tự mình đi một mạch từ cổ điển đến siêu thực, nhưng thơ ông chín rộ vào quãng gối đầu giữa Tượng trưng và Siêu thực. Hơn nữa điều quan trọng hơn, là tạng thơ của Hàn Mặc Tử. Kiểu tư duy, khí chất và bệnh tật làm cho ông luôn luôn phân thân, mộng mị và hoang tưởng. Do vậy, siêu thực với ông không phải là thủ pháp kỹ thuật, mà là bản chất sáng tạo của thơ ông.
Sau cùng, sự khác lạ của trữ tình Hàn Mặc Tử còn ở tính se xe của nó. Với một nền văn học không có truyền thống nói đến tính dục như của chúng ta thì điều đó lại càng lạ hơn nữa. Có lẽ tính chất nhục cảm trong thơ Hồ Xuân Hương xuất phát từ tín ngưỡng phồn thục (culte de fécondité), nên đọc thơ Bà chúa đâu đâu cũng thấy những biểu tượng Âm, Dương này, tưởng như lạc vào một ngôi chùa Tây Tạng. Còn nhục cảm của thơ Hàn thì rõ rang đi từ một “ẩn ức” nào đócủa những gái quê, gái đồng trinh, ni cô, cung nữ ở Lãnh Cung… Bởi vậy, nó len thấm vào thực thể của những câu thơ, khi thì biểu lộ ra bằng từ ngữ (sờ sẫm, cọ mài, trần truồng…), bằng những hình ảnh (khuôn vàng dưới đáy khe…), bằng những ám chỉ đến hành động giao hoan (các bài ra đời, Đêm xuân cầu nguyện, Đàn ngọc…) tạo thành một thứ vi khí hậu của tác phẩm. Sự kết hợp của chất nhục cảm dân dả, trần tục với chất thánh thiện, siêu thoát trong thơ hàn Mặc Tử tạo ra sự nghịch dị, chướng, dẫu hiện đại (modernité). Nhưng đấy chỉ là sự đối lập bề ngoài, ở tầng cao hơn, tức là ở bình diện triết học tâm linh, se xe và tôn giáo lại có sự gặp gỡ nhau, bởi chúng đều mang lại sự giải thoát và đưa con người về với nguồn cội của mình.

TƯ DUY TÔN GIÁO

Đọc Hàn Mặc Tử, người ta vấp ngay phải vấn đề: Hàn Mặc Tử, anh là ai? hoặc hẹp và ít trừu tượng hơn: Hàn Mặc Tử có phải là nhà - thơ – tôn – giáo không? Câu hỏi này có nhiều câu trả lời. Để khỏi vướng vào những tranh luận không lối thoát, tôi giải đáp vấn đề theo cách riêng của mình. Nếu Nguyễn Trọng Trí là một tín đồ Thiên Chúa giáo thì Hàn Mặc Tử lại là một nhà thơ. Với nhà thơ thì một nghệ thuật là tối thượng, là đạo. Nhưng nhà thơ ấy lại không thể không liên quan đến vị tín đồ kia, nhất là trên phương diện hình thành một nhân cách và kiểu tư duy. Hơn nữa, Hàn Mặc Tử với tư cách là một nhà thơ coi tôn giáo với tất cả tinh thần của chữ ấy là một cái gì đó đời đời vĩnh hằng và tuyệt đỉnh của nghệ thuật (Tựa tập thơ Tinh huyết của Bích Khê). Với một quan điểm tôn giáo như vậy, những Chúa, những Phập, những Tây Vương Mẫu… chỉ là những biểu tượng cụ thể của những cái Duy nhất, cái Vĩnh hằng. Đến với Hàn Mặc Tử, từ cạnh khía tư duy, tư duy tôn giáo, là hợp lý hơn cả. Điều đó chẳng những khắc phục sự tranh chấp bất phân thắng phụ về vấn đề Hàn Mặc Tử có phải là nhà thơ tôn giáo không?”, mà còn cho phép thâm nhậpvào bản chất nghệ thuật của thi nhân. Dĩ nhiên tôn giáo là một hiện tượng đa tạp, có khoảng sáng và vùng tối, có thoát tục và có trần tục, nhất là với tư cách là một thiết chế xã hội. Ở đây chúng tôi chỉ xét tôn giáo trên phương diện thuần túy là một kiểu tư duy.
Tư duy ma thuật, mà chừng nào đó là tư duy huyền thoại, do tính chất đa thần, đã xé vụn thế giới ra thành những mảnh riêng rẽ (tục ngữ: “Đất có Thổ công, sông có Hà bá”). Còn với tư duy tôn giáo, do tính chất độc thần, thế giới vỡ vụn đã được thống nhất trở lại. Nhờ đó con người mới có điều kiện để nhận thức bản chất thế giới, trả lời những câu hỏi bản thể luận như nguồn gốc của vũ trụ và con người, ý nghĩa của cuộc sống và cái chết…Tôn giáo, do đó, đóng vai trò cơ chế tư tưởng chuyển thành những giá trị riêng tư, cá nhân, dân tộc, khu vực thành những giá` trị chung, thế giới, nhân loại. Phật giáo coi mọi người đều có chung một thân phận là ai nấy đều phải gánh chịu là tứ khổ: sinh, lão, bệnh, tử. Do đó, ước mong đươc vớt khỏi bể khổ không là của riêng ai. Coi mọi người bất kể sang hèn, giàu nghèo đều có phật tính, nghĩa là có khả năng trở thành Phật, là một tư tưởng bình đẳng, nhân đạo. Thiên Chúa giáo cũng thừa nhận mọi người đều bình đẳng trước Chúa, vì giá trị của mỗi người là ở bản thân hành động của anh ta, chứ không phải ở tài sản, địa vị.
Như vậy, xét trên khía cạnh tư duy tôn giáo, các nhà thơ - thiền sư Lý - Trần (phật giáo) và Hàn Mặc Tử (Thiên Chúa giáo) đều có trong tay một công cụ như nhau (cơ chế tư tưởng) để nhân loại hoá thơ mình. Đó là sự giống nhau ở họ. Còn sự khác nhau, trước hết và chủ yếu, là ở sự khác nhau giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo coi trọng cá nhân nhìn con người như một cá nhân là do việc xưng tội buộc nó phải đánh giá, phán xét tâm hồn, hành vi con người một cách riêng tư. Tín đồ Thiên Chúa giáo tự chịu trách nhiệm trước Chúa về bản thân mình, với tư cách cá thể. Hai là, các nhà thơ Lý - Trần coi Hữu, Vô như nhau, sự sống, cái chết như nhau (Vạn Hạnh: ‘Thân như điện ảnh hữu hoàn vô”). Bởi vậy họ rất coi thường thân, thân là không, cái thân hiện ra, tức sắc thân, chỉ là ảo. Hàn Mặc Tử, ngược lại, rất coi trọng cuộc sống và cái chết, coi trọng thân xác. Tóm lại, nguyên cớ căn bản khiến Hàn Mặc Tử khác và cũng mới hơn các nhà thơ Lý - Trần là ở tính chất cá nhân đến với ông bằng hai nẻo: Thiên Chúa giáo và nền văn minh phương Tây được xây dựng trên cơ sở Thiên Chúa giáo.
Chính tư duy Thiên Chúa giáo đã làm cho sáng tác của Hàn Mặc Tử có cấu trúc nội tại, không những ở cấp vi mô (từng bài thơ) mà cả ở cấp vĩ mô (toàn bộ các tác phẩm), tạo nên một vũ trụ thống nhất, hoàn chỉnh. Theo nhà nghiên cứu Đặng Tiến thì Gái quê là thế giới đợi chờ Điềm lạ, đợi chờ Chúa ra đời, Đau thương là tâm hồn mong mõi của Chúa trở lại. Trong Đau thương, Hàn Mặc Tử chấp nhận bệnh tật như là nguyên tội, là “phương tiện thân xác” mà Chúa đã dùng để cứu thế. Bệnh tật là tham gia vào công đức cứu rỗi, làm nối liền người bệnh với bản thân Chúa - hiện – làm - người. Còn Xuân như ý là thế giới khải huyền; con người rủ sạch được tội lỗi Đau thương (tạp chí Văn, số 179, năm 1971). Như vậy, trên bình diện cấu trúc tác phẩm, sáng tác của Hàn Mặc Tử, một cách vô thức, đã “minh họa” cho con đường cứu rỗi của Thiên Chúa giáo - nghệ thuật là chia toàn bộ sáng tạo của nhà thơ thành ba thời kỳ. Một là giai đoạn cổ điển với Lệ Thanh thi tập. Đây là sự hài hòa của Hàn Mặc Tử với chính mình và với xung quanh, tương ứng với thời thơ ấu của con người hay “thuở thiên đường” của nhân loại. Hai là giai đoạn lãng mạn, tượng trưng và siêu thực với Gái quê, Đau thương và một phần của Xuân như ý… Hài hòa bị phá vỡ. Con người bất ổn với chính mình và hoàn cảnh: đau khổ, mơ ước, điên dại… Nó tương ứng với thời kỳ trưởng thành, vấp váp, bệnh tật của con người và của nhân loại “mất thiên đường”. Ba là, giai đoạn tân - cổ điển với một phần của Thượng thanh khí và toàn bộ Cẩm châu duyên. Sự hài hòa lại được tái lập, dĩ nhiên là trong mơ ước tôn giáo. Đau thương rũ bỏ. Con người được trở lại “thiên đường” của mình. Các tôn giáo Đông phương cũng đi tìm giải pháp cho đau thương. Phật giáo coi cuộc đời là bể khổ, mà nguồn gốc của đau thương la dục vọng. Cho nên diệt dục là con đường cứu khổ cứu nạn. Lão Tử thì đưa ra thuyết vô vi, sống theo tự nhiên thì sẽ chữa được những lầm lạc của người đời. Chỗ gặp nhau của những tôn giáo lớn - những tư tưởng lớn là ở đây. Hạt nhân triết học của những tôn giáolớn cũng là ở đây.
Tư duy tôn giáo còn là công cụ hữu hiệu để nâng cánh cho trực giác nghệ thuật tuyệt vời của thi nhân bay cao, bay xa vào cõi siêu hình. Nhà thơ có một cái nhìn vũ trụ trong tính toàn thể, tính siêu việtcủa nó với một cảm xúc tràn đầy.

“Mới hay cõi siêu hình cao tột bực
Giữa hư vô xây dựng bởi trăng sao
Xa lắm rồi, xa lắm, hãi nhường bao!…
Ai tới đó chẳng mê man thần trí
Toà châu báu kết bằng hương kỳ dị
Của tình yêu rung động bởi hào quang
Những cù lao trôi nổi xứ mênh mang
Sẽ quy tụ thâu về trong một mối
Và tư tưởng chẳng bao giờ chắp nối…”

Bức tranh vũ trụ được thi sĩ dùng trực giác để vẽ ra tưởng như đã gặp đâu đó trong một cuốn thiên văn hiện đại nào. Con người bay vào vũ trụ (cõi siêu hình cao tột bực), thoạt tiên còn có cảm giác cô đơn, nhỏ bé trước sự bao la (hãi nhường nào!), nhưng rồi thần bí mê man trước vẻ châu báu của vũ trụ, vũ trụ là thống nhất (“Những cù lao trôi nổi xứ mênh mang, Sẽ quy tụ thâu về trong một mối”), nên tư duy của con người, cái phản ánh của vũ trụ cũng mang tính thống nhất (“ và tư tưởng chẳng bao giờ chắp nối”). Bài thơ cho thấy Hàn Mặc Tử đã đạt đến một tinh thần tôn giáo – vũ trụ (khái niệm của A.Einstein): đó là tính toàn thể của thế giới và tính nhất thể giữa con người và thế giới.
Hàn Mặc Tử thường hay quay trở về cội nguồn, với mùa xuân đầu tiên của trời đất và con người. Dường như ông tìm thấy ở đấy sự nhất thể tính nguyên sơ giữa con người và vũ trụ - căn nguyên của mọi nghệ thuật, châu báu mà con người đời sau đã đanh mất trong biển thời gian, và chỉ còn giống thi sĩ là cố công ngụp lặn, mò tìm:

“Thuở ấy càn khôn mới dựng lên
Mùa thơ chưa gặp tốt tươi lên
Người thơ phong vận như thơ ấy
Nào sẽ ra đời ngọc biết tên”
(Xuân đầu tiên)

Nhờ tinh thần tôn giáo – vũ trụ đó, các bài thơ Xuân của Hàn Mặc Tử (Mùa xuân chín, Xuân đầu tiên, Đêm xuân cầu nguyện) chẳng những giữ được vẻ trinh nguyên của đất trời, mà còn đợm một cảm giác huyền bí thiêng liêng của cuộc đời. Đó là ánh thiều quang khác lạ của thơ Hàn Mặc Tử so với thơ xuân của các thi sĩ cùng thời.

MÔ HÌNH VÀ SÁNG TẠO

So với thơ của các thi sĩ cùng thời như Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương…, thơ Hàn Mặc Tử có một sự khác về chất. Dó là tư duy tôn giáo kết hợp nhuần nhuyễn với chất trữ tình trên cơ sở cái tôi cá nhân hiện đại. Tính ưu việt của “hợp chất” mới này thể hiện ở những khía cạnh sau: Một là, tư duy tôn giáo với tính hệ thống chặt chẽ của nó làm cho các yếu tố tượng trưng, cổ điển của thơ Đường , tượng trưng tôn giáo, lãng mạn, siêu thực… vốn rời rạc, lẻ tẻ trước đây kết thành một cấu trúc nghệ thuật hoàn chỉnh. Hai là con người cá nhân cá thể hiện đại kết hợp với con người siêu cá thể trung đại làm cho cái nhìn con người trong thơ Hàn Mặc Tử vừa có chiều sâu, thậm chí tầng sâu vô thức, vừa có chiều rộng, chiều phổ quát toàn nhân loại, đồng thời có chiều cao tâm linh. Hàn Mặc Tử đã phá vỡ con người nguyên phiến để tạo ra con người đa chiều kích. Con người với thi nhân, không chỉ là một, mà là hai, thậm chí vô số. Nếu Cao Bá Nhạ trong Tự tình khúc thấy “trong một mình bảy tám biệt ly”, thì Hàn Mặc Tử còn thấy sự phân thân, hoá thân sinh động hơn:

“Bóng ai theo dõi bóng mình
Bóng nàng yêu tinh,
Nụ cười như tiếng vỡ pha lê”

Với cách nhìn con người từ bên trong như vậy, Hàn Mặc Tử báo hiệu sự ra đời của chủ nghĩa nhân văn mới, phi cổ điển. Ba là, yếu tố siêu thực và tôn giáo đã làm cho thơ Hàn Mặc Tử mang tính chất huyền bí của cuộc đời. “Điều đẹp nhất mà ta có thể cảm giácđược chính là cái khía cạnh huyền bí của cuộc đời. Đó là tình cảm sâu xa ở trong nôi của khoa học và nghệ thuật đích thực” (A.Einstein). Bốn là, tính trữ tình kết hợp với tư duy tôn giáo đã đẻ ra những hình tượng tân kỳ, như:

“Lụa trời ai dệt với ai giăng
Ai thả chim bay đến Quảng Hàn,
Và ai gánh máu đi trên tuyết ,
Mảnh áo da cừu ngắm nở nang…”

Từ mô hình trên, ở bình diện sáng tạo cụ thể, bước đổi mới đó của Hàn Mặc Tử được thể hiện bằng những biểu tượng nghệ thuật vừa độc đáo, vừa nhất quán. Đó là các ký hiệu - biểu đạt: trăng, hồn và máu.
Trăng là một mô típ, một biểu tượng của nhiều thề hệ thi sĩ Việt Nam. Trăng xuật hiện trong thơ thiền như một cái gì lạnh và tĩnh lặng tuyệt đối. Hơn nữa trăng lại thường sóng đôi với hình ảnh dòng nước chảy để biểu hiện quan niệm thiền hữu, không:

“Hữu không như thủy nguyệt
Vật trước hữu không không

(Vầng trăng vằng vặc in sông,
Chắc chỉ có một không không mơ màng)

Tính chất tĩnh lạnh của vầng trăng thiền biểu lộ sự không chú ý đến hiện hữu của ngoại vật, mà chỉ chú ý đến cái hư không của nội tâm. Điều này ngược với vầng trăng của thơ lãng mạn, vốn rạo rực nồng ấm.
Trăng với Hàn Mặc Tử có một quan hệ đặc biệt. Có người cho bệnh phong có một tương tác đặc hiệu nào đó với trăng, kiểu thủy triều. Điều đó có thể có hạt nhân hợp lý. Tuy nhiên, nếu có, đấy cũng chỉ là “cái hích ban đầu” thúc đẩy cỗ xe sáng tạo lăn bánh, chứ không phải là động cơ trực tiếp. Điều đáng nói là một nhà thơ lớn bao giờ cũng biết “khai thác” đến tận cùng cái tiểu sử cụ thể của mình. Nếu không bị cùi thì hẳn Hàn Mặc Tử đã không chú ý đến cái sắc độ dị thường trên gò má:

“ Người trăng ăn vận toàn trăng cả,
Gò má riêng thôi lại đỏ hườm”.

Nếu bản thân không nghèo đói, không yêu trăng thì thi sĩ cũng không có những câu thơ như:
“Áo ta rách rưới trời không vá”,
Hoặc: “Trời hỡi nhờ ai cho khỏi đói
Gió trăng có sẵn làm sao ăn”…

Chỉ có Hàn Mặc Tử mới có thể nói về cái thiếu thốn, thiếu vắng của mình cao sang như vậy.
Có thể nói, trăng, ánh trăng đã để lại những cảm giác vật chấtlên thân xác Hàn Mặc Tử. Bởi thế, trong khi các nhà thơ Lãng mạn khác thi vị hoá trăng, Hàn Mặc Tử lại trần tục hoá nó. Từ chỗ: “Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối” của thơ luật đến “Trăng nằm song soài trên cành liễu… Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe” thì đã là một bước tiến dài. Tuy nhiên, bên cạnh sự người hoá trăng đó, Hàn Mặc Tử còn trăng hoá người. Điều này khiến ngòi bút ông nẩy ra những câu thơ khác lạ:

“Mới lớn lên trăng đã thẹn thò
Thơm như tình ái của ni cô”.

Đây là một sự kết hợp đầy kỳ cục giữa các từ rất xa nghĩa nhau như ni cô và tình ái và thơm… Nhưng đằng sau cái vẻ nghịch lý đó là sự thuận lý: trăng đối với Hàn Mặc Tử như một con vật lưỡng thê, vừa vật chất, vừa tinh thần, vừa trần tục vừa thiêng liêng… Cạnh khía thứ hai của trăng được bộc lộ rõ hơn về giai đoạn sau của thơ Hàn Mặc Tử.
Ở giai đoạn Đau thương này, trăng trong thơ Hàn Mặc Tử đã trở thành một ám ảnh ghê gớm. Nó vừa là ánh sáng, vừa là bóng tối, hay đúng hơn, là sự tương tranh của ánh sáng cùng bóng tối, một thế giới thích hợp với Hàn Mặc Tử. Nhà thơ cũng là ánh trăng:
“Không gian dày đặc toàn trăng cả
Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng”


Trăng cũng còn là hồn là máu. Đó là ba cạnh khía khác nhau của thế giới Hàn Mặc Tử, một thứ “tam vị nhất thể”:
“Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa
Vỡ trăng thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra”
(Say trăng)

Và:
“Thịt da tôi sượng sần tê điếng
Tôi đau vì rung rợn đến vô biên
Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm
Cho trăng ngập dần lên tới ngực”
(Hồn là ai)

Ba hình tượng trăng, hồn, máu, theo Đặng Tiến, dồn đọng lại trong tương quan chặt chẽ: nhà thơ khạc hồn ra khỏi miệng, điên cuồng mửa máu ra hay ngậm cả một miệng trăng. Như vậy, cả ba, trăng, hồn, máu, đều từ thân xác Đau thương.
Ngoài ra, thơ Hàn Mặc Tử đầy những máu lệ/ thét gào (bút danh Lệ Thanh), gió bụi (bút danh Phong Trần)… Chúng tồn tại như những biệt thể của thân xác, khi tụ khi tán. Đau thương trong thơ ông có tính lưỡng trị: một mặt, nó làm ông suy nhược, hao mòn, tan loãng, mặt khác, nó lkhơi dậy trong ông nguồn sáng tạo vô biên. Ma1u, hồn, trăng là đau thương trở thành sáng tạo. Điều này giải thích được sở thích kỳ lạ của Hàn Mặc Tử, thoạt đầu có vẻ bệnh hoạn: nhà thơ muốn được nhìn thấy máu mình chảy:

“Lời thơ ngậm cứng không rên rỉ
Và máu tim anh vọt láng lai
Thơ ở trong lòng reo chẳng ngớt
Tiếng vang tha thiết dội muôn nơi”

Hàn mặc Tử có vẻ say mêcái “thú đau thương” này:

“ Cứ để ta ngất ngư trên vũng huyết,
Trãi niềm đau trên mảnh giấy mong manh.
Đừng nắm lại nguồn thơ ta đang siết
Cả lòng ta trong mớ chữ rung rinh”

Với Nguyễn Trọng Trí, tín đồ Thiên Chúa giáo, đau thương là một phương tiện cứu chuộc tội lỗi. Còn với Hàn Mặc Tử, nhà thơ, giải phẩu đau thương là hành vi sáng tạo. Thơ Hàn Mặc Tử là kinh nghiệm đau thương, kinh nghiệm của con trai kết ngọc. “Không phải ngẫu nhiên mà tập thơ hay nhất của ông là Đau thương: Hương thơm là đau thương của thân thể rỉ ra để biến thành những dòng chữ:

“ Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút
Mỗi lời thơ đều dính não cân ta
Bao dòng chữ quay cuồng như máu vọt
Cho mê man tê điếng cả làn da”

Một kinh nghiệm, hay một giải pháp đau thương khác của Hàn Mặc Tử là hòa tan vào vũ trụ, bay sang một thế giới khác. Đọc thơ ông, thường bắt gặp những từ chỉ sự biến đổi này với một tần số cao như: tan, hóa, tiêu tán…

- “Bao giờ mặt nhật tan thành máu
Và khối lòng tôi cứng tợ si”
- “Cả niềm yêu, ý nhớ cả một vùng
Hoá thành vũng máu đào trong ác lặn”

Hàn Mặc Tử diễn tả cảm giác hay ý thức tiêu tán qua những biến đổi ngược chiều: những gì thường ngày liên tục tuôn chảy như dòng đời, nguồn sống thì cứng đông lại, còn cái gì chắc chắn, có hình thù, khối lượng thì tan loãng ra. Hàn Mặc Tử có thái độ thiết tha với cuộc sống – càng vơi cạn thì càng tha thiết. Thoạt đầu có chút hốt hoảng, gào thét, nhưng dần dần đã đi đến chấp nhận, an nhiên. Lúc này, ý thức tiêu tan chuyển đến ước mơ một thể thống mới, một dạng vật chất mịn hơn, nhẹ nhàng, thanh thoát không giới hạn:

“ Đây là tất cả người anh tiêu tán
Cùng trăng sao bang bạc xứ mơ say”

Tiêu tán thân phận hữu hình, hữu hạn để được sống trường tồn với trăng sao, vũ trụ vô hạn, trở về với sự nhất thể tính vĩnh hằng giữa con người và tự nhiên . (Đặng Tiến, Văn, số 179, năm 1971)

* *
*

Thiên tài bao giờ cũng là hiện tượng đơn nhất không lập lại trong lịch sử. Nhưng thiên tài nào cũng đứng trên vai người khổng lồ để chiếm lĩnh tầm cao mới, để cắm cây mốc mới trên hành trình đi tới. Thực chất của mỗi cuộc bước tiến là đưa ra một mô hình mới. Các thế hệ sau học tập một thiên tài, thực chất, là chiếm lĩnh cải biến mô hình đó mà thôi. Hàn Mặc Tử là người xây dựng được cho mình một mô hình đó là tính trữ tình + tư duy tôn giáo + cá nhân hiện đại.
Nhìn vào diễn trình lịch sử của thơ Việt nam, có thể ghi nhận một điều: khi tính trữ tình phát triển đơn độc hoặc kết hợp với tư duy đạo đức để làm nhiệm vụ “văn dĩ tải đạo” thì thơ phát triển không cao, lại thường rơi vào tình trạng rời rạc, lẻ tẻ, không kết thành hệ thống. Còn khi tính trữ tình kết hợp được với tư duy tôn giáo hoặc triết học thì thơ được nâng lên một tầm cao mới. Những đỉnh nhọn của thi san vượt qua tầm địa quyển nhô vào khoảng không vũ trụ, hòa vào nhịp điệu miên viễn của nó.
Thời đại Lý - Trần, tư duy tôn giáo và triết học phát triển, nên thơ thời đại này phóng khoáng cao viễn. Nghĩa là ở đây, cả hai yếu tố: tính trữ tình hay tư duy tôn giáo (hay triết học) đều đã có nhưng do thiếu tính chất cá nhân hiện đại làm chất xúc tác nên hkông xảy ra một “phản ứng hóa học” nào để tạo ra một hợp chất mới cao hơn như ở Hàn Mặc Tử. Trên thế giới, nhiều thiên tài thơ ca cũng đã được sinh ra từ mô hình này, như Holderlin (1770-1843), Tagore (1861-1941), Paul Claudel (1868-1955)…
Đến đây, tôi xin tạm khép lại dòng suy nghĩ của mình về Hàn Mặc Tử bằng một câu viết của Chế Lan Viên “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Tuyển tập Hàn Mặc Tử, NXB văn học, 1987)

Nguồn trích: Con mắt thơ.- H., 1997 (1.344);
KHPL: BĐ.04(91)
=====================

André Breton và Hàn Mặc Tử

André Breton và Hàn Mặc Tử



Hoàng Nhân

Năm nay giới văn học Pháp đang chuẩn bị nhiều hoạt động kỷ niệm 100 năm ngày sinh và 30 năm ngày mất của nhà thơ nổi tiếng André Breton (1896 – 1966), nhà thơ tiền phong và là người đứng đầu trường phái siêu thực về lý luận và thực hành sáng tác như thế nào? Thử tìm hiểu đôi điều liên hệ giữa André Breton và nhà thơ Hàn Mặc Tử của chúng ta.

Chủ nghĩa siêu thực là một trào lưu năng động nhất về văn nghệ của thời kỳ sau Thế chiến lần thứ I. Hình thành ở Pháp khoảng từ năm 1920, chủ nghĩa siêu thực tự khẳng định với bản Tuyên ngôn siêu thực lần thứ nhất (1924) và tạp chí Cách mạng siêu thực. Từ năm 1926 đến năm 1928, trường phái này hoạt động sôi nổi với nhiều tác phẩm của các tác giả như: Nadja của Breton, người nông dân Paris của Aragon, Tự do hay tình yêu của Desnos, Trí tuệ chống lại lý trí của Crével, Đô thị đau thương của Eluard,. Đây là thời kỳ chủ nghĩa siêu thực trong thơ và hội họa đầy sinh khí và có sức hấp dẫn mạnh mẽ một bộ phận khá đông công chúng ở Tây Âu. Từ năm 1929, trường phái siêu thực bắt đầu chia rẽ và phân tán với Tuyên ngôn thứ hai (1930) của Breton. Từ năm 1927, Aragon và Eluard đã ra nhập đảng Cộng sản Pháp và đến năm 1932 thì cắt đứt với phái siêu thực. Năm 1938 là năm mở đầu các cuộc triễn lãm hội họa siêu thực ở Paris trong nhiều năm.

Trường phái siêu thực ra đời có nguyên nhân sâu xa về xã hội, văn hoá từ giữa hai cuộc thế chiến (1919 –1939). “Một thế hệ mất mát” (une g1enératon perdue) sau thế chiến lần I, lo âu trước sự đe dọa của một cuộc chiến tranh mới, đã tỏ ra “bất phục tùng” trước thực tại. Họ đi tìm một cách nhìn mới về một thế giới trước nghịch lý của nền văn minh liên tục xây dựng và liên tục bị tàn phá. Họ day dứt trước bao điều trái ngược về các mối quan hệ giữa thực tại và tưởng tượng, tinh thần - vật chất, Lý trí – Phi lý tính… Họ muốn cởi mở tiếp nhận và dung hòa nhiều yếu tố tư duy khác nhau: ý nghĩ “đổi đời” của Rinbaud, tư duy “cải tạo thế giới” của Mác, cái “đà sống” của con người qua phân tâm học của Freud.

Andeton là nhà lý luận, một nhân cách độc lập và say mê đã kiên trì thể hiện và bảo vệ những giá trị của trào lưu này. Có mặt ở trung tâm các cuộc luận chiến, ông thường sử dụng hai vũ khí: khen ngợi và chê trách mạnh mẽ. Ông cho rằng tiếng nói nguyên sơ của con người đã mất đi vì bị phó mặc cho chủ nghĩa duy lý và ông khẳng định rằng con người luôn giữ trong suy tư của mình một thực tại còn chưa khám phá ra. Ông quan niệm “một lực chủ đạo là dục vọng không gò bó” sẽ làm nẩy nở: thơ, tình yêu, tư do - vốn là hạnh phúc trọn vẹn của nhân loại. Ông muốn con người cần loại bỏ những ràng buộc của cuộc sống hàng ngày, những thói quen làm cho con người trở nên “ù lì”. Do đó ông nổi loạn thường trực chống lại cuộc đời như đã định sẵn và trong bản thân ông diễn ra nghịch lý: ý thức cách mạng nẩy nở khi đấu tranh cho tự do chống lại mọi chế độ ràng buộc, nhưng ông lại không tán đồng mệnh lệnh của các đảng phái chính trị làm cho hoạt động trí tuệ thuộc vào sự thống nhất của tổ chức. Và quan niệm về chủ nghĩa xã hội của ông có tính chất một chủ nghĩa tự do không tưởng. Breton ý thức rằng cuộc sống phải có những cắt đứt và điều chỉnh, và chủ nghĩa siêu thực mang lại sự thuần khiết trọn vẹn của cá nhân.

Trong Tuyên ngôn của ông đã nêu lên “lối viết tự động” (écriture automtique) là lối viết thể hiện mọi ý tưởng, cảm xúc ngẫu nhiên từ cõi tiềm thức, những giấc mơ, ảo giác… vượt ra sự kiểm soát của lý tính: “Từ niềm tin về những khám phá của Freud, một trào lưu sẽ ra đời. Nhờ trào lưu đó, nhà thám hiểm nhân văn có thể đẩy ra những cuộc tìm kiếm của mình mà không chỉ cần đến thực tại sơ sài… Chủ nghĩa siêu thực là chủ nghĩa tự động tâm lý thuần túy, nhờ nó mà người ta đặt vấn đề biểu hiện hoặc bằng lời nói, hoặc bằng bài viết, hoặc bằng bất cứ cách thức nào, hoạt động thực tế của tư tưởng thoát khỏi mọi sự kiểm soát của lý tính…”

Nadja (1928) là tác phẩm văn xuôi có tính chất thơ tiêu biểu của Breton. Tác giả kể về sự kỳ diệu của hai Paris của những chốn và con người có thật, và một Paris khác có tính chất biểu tượng với những cuộc gặp gỡ. Vấn đề không phải là ở người gặp mà ở sự gặp gỡ khi nhân vật Nadja hoà lẫn với những người gặp trên đường. Qua những lần gặp gỡ thì sự trợ giúp của người phụ nữ là yêu việt, vì người phụ nữ gắn với thiên nhiên hơn người đàn ông, và giúp ta hiểu được bí mật của thời gian. Những lần gặp gỡ phát hiện ra vẽ đẹp thật ngẫu nhiên và “sự lên men của các dục vọng bí ẩn” nằm sâu trong cõi tiềm thức và vô thức. Từ năm 1942 đến năm 1947, nhiều tác phẩm của ông có tính chất sử thi và triết lý. Ví dụ bài thơ Chuyến thư cuối cùng (Dernìere levée) là cuộc vi hành của một lá thư “đóng dấu đường hoàng đạo”, bóc ra bởi những mái chèo, mở ra bao điều bí mật của tâm hồn, sống và chết, quá khứ và tương lai, cái cao và cái thấp… không còn được nhìn trong thế mâu thuẫn.

Văn học hiện đại Việt Nam không có chủ nghĩa siêu thực mà chỉ có những yếu tố siêu thực nhất định, khởi đầu với tác phẩm của một số nhà thơ Mới như Chế Lan Viên (Điêu tàn), Nguyễn Xuân Sanh (Xuân Thu nhã tập) và nhất là Hàn Mặc Tử (Thơ điên: đau thương, thượng thanh khí…). Trong Lời giới thiệu Thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên viết: “Anh bị xô vào giữa trận bão, cơn giông, đám cháy, giữa chết chóc, cô đơn, máu lệ nên có cách nào hơn? (…). Cuối cùng anh dùng đến cả bút pháp siêu thực châu Âu. Anh tả sao:

Đứng ngửa tay mà hứng máu trời sa

Và chính anh đang cảm thấy máu sa trong hồn anh thực. Anh viết:

Ta đi tìm nụ tầm xuân
Gặp vua nhà Nguyễn bay trên mây
Rượu nắng hồng vào thì say
Áo ta rách rưới trời không vá
Suốt bốn mùa trăng mặc vải trăng

Điên đầu phải không? Nhưng anh say say chứ? Ngấm rượu siêu thực của anh rồi!”

Hàn Mặc Tử đã viết những vần thơ đau thương trong hoàn cảnh anh bị bệnh phong vào thời ấy phải sống cách biệt với mọi người. Có thể nói bao nhiêu ham muốn và khát vọng cháy bỏng từ thân xác, trái tim, trí tuệ, tài hoa của một chàng trai bị dập vùi, dồn nén vào trong tầm thức, vô thức để rồi thoát thành những vần thơ theo “lối viết tự động” như của Breton, vượt ra ngoài sự kiểm soát của lý tính.

Từ đó ta mới có thể hiểu chất thơ thế tục của ông:

Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn
…Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe
… Dám ôm hồn Cúc trong sương
Ôi Hoàng hoa, hồn phách nơi đây

Hàn Mặc Tử là một tín đồ Thiên Chúa giáo, thế mà tín điều ép phần xác cho siêu thoát phần hồn của Kinh thánh lại không kiểm soát được cảm hứng thế tục của nhà thơ thoát ra từ bản năng vô thức bị dồn nén. Có thể Hàn Mặc Tử chưa hề biết đến trường phái siêu thực trong thơ của họ lại gặp nhau.

Điếu khác biệt là Breton đứng đầu cả một trào lưu siêu thực, tiêu biểu cho sự phản ứng của cả một Thế chiến I nhằm chống lại thực tại tư sản, còn Hàn Mặc Tử của chúng ta là sự giằng xé đau thương của một cá nhân đơn độc, của một người dân Việt Nam trong xã hội thuộc địa, mắc phải chứng bệnh hiểm nghèo. Do đó chất thơ siêu thực của Hàn Mặc Tử lại toả ra “thanh khí” riêng của một hồn thơ dân tộc say mê mãnh liệt cuộc sống. Do đó ông đã sáng tạo ra một cõi sống riêng, một hồn riêng mà không phải là hư vô như có người ngộ nhận, không phải là hồn như của bao con chiên khác hướng đến thiên đàng.

Ta khạc hồn ra ngoài cửa miệng
Há mình cho hồn văng lên muôn trượng
… Hồn là ai, là ai tôi không hay
Dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay

Và nhà thơ yêu sức sống của ánh trăng bàng bạc, của gió mây trời quê hương:

Lụa là ướt đẫm cả trăng thơm
Người trăng ăn vận toàn trăng cả
Gò má riêng thôi lại đỏ hườm
… Nghe hơi gió ôm ngang lấy gió
Tưởng chừng như trong gió có hương
Của người mình nhớ mình thương
Nào hay gió tạt chẳng vương vấn gì
… Mơ khách đường xa khách đường xa
Áo em trắng qúa nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà

Trong quá trình sáng tác, Chế Lan Viên, Xuân Diệu đã cảm nhận sự cần thiết “một thoáng siêu thực” trong thơ làm cho chất trữ tình, chất hiện thực càng dễ say lòng người. Nếu chất thơ siêu thực của Preton và trường phái siêu thực Pháp vẫn đậm màu duy lý khi kết hợp thực và mộng, thực và siêu thì chất thơ siêu thực của Hàn Mặc Tử lại thấm màu trực giác tổng hợp của phương Đông về thời gian - không gian, con người – vũ trụ, thể chất – tâm hồn… Vì lẽ đó mà chất thơ siêu thực của ông đã vượt ra ngoài mọi khuôn khổ của tín điều, giáo lý.

Nhà phê bình Albérès viết: “Trong đời người có những lúc một vật nhàn chán nhất cũng làm cho chúng ta tràn đầy vui sướng, chúng ta sống những phút ấy vì gặp tình cờ, có khi vì mỏi mệt, chúng ta nhìn sự vật khác hẳn lúc bình thường. Chủ nghĩa siêu thực tạo những cơ hội ấy… cho tấm màn thói quen nhàm chán rách tung và làm hiện ra một thế giới ở bên ngoài biên giới của hệ của thông lệ tạo nên bởi giáo dục” (Văn chương đương đại thế giới)

Nhà thơ Chế Lan Viên nhận xét: “Siêu thực của châu âu là chủ nghĩa siêu thực, ta không chấp nhận chủ nghĩa. Nhưng ta mừng trước thơ Hàn Mặc Tử vì thơ ông có mang những yếu tố siêu thực, với một tỷ lệ chấp nhận được. Hơn nữa, siêu thực châu Âu là siêu thực vì bộ óc. Hàn Mặc Tử thì Nàng đánh tôi quá đau. (Tựa thơ Hàn Mặc Tử)

Giới văn học Pháp kỷ niệm lớn André Breton với những lý do riêng của xã hội nước pháp vẫn đang trãi qua muôn vàn sóng gió ở cuối thế kỷ này. Tìm hiểu tính chất siêu thực trong thơ Hàn Mặc Tử là để thấy sự gặp gỡ Đông – Tây về văn hoá, nhưng ở Hàn Mặc Tử vẫn đậm đà bản sắc của một hồn thơ Việt Nam

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa.- 1996.- Số 7 (1.348);
KHPL: BĐ.04(91)